NƠI ĐÓ TÌNH YÊU

KỈ NIỆM 115 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ HOÀNG VĂN THỤ

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    LỊCH SỬ NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH 26/3

    THCS THANH LONG CHUẨN BỊ CHÀO ĐÓN NĂM 2025

    CHƯƠNG TRÌNH CHUYỂN ĐỔI SỐ NGÀNH THƯ VIỆN

    BÀI GIẢNG ONLIN

    SÁCH NÓI HAY

    KIẾN THỨC CHỈ CÓ ĐƯỢC QUA TƯ DUY CỦA CON NGƯỜI – A. Einstein (1879–1954)

    VĂN HÓA ĐỌC NĂM 2025

    GIỚI THIỆU SÁCH THEO THÁNG

    SÁCH NÓI TỪ KÊNH Voiz FM

    Hoàng Sa Trường Sa là máu thịt Việt Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lộc Thị Gái
    Ngày gửi: 20h:12' 01-03-2024
    Dung lượng: 12.6 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    “íhCoàng
    Sa,Trường Sa là máu
    Việt Nam là một tập sách có ý nghĩa
    dành cho bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ Việt
    Nam, để các em hiểu thêm về 'nguồn cội,
    biển, đảo của đất nước và có trách
    nhiệm trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ
    quốc Việt Nam ngàn đời yêu dấu”.
    (Báo Nhân dân, số ra ngày 04-6-2014)

    “ Cuốn sách được biên soạn công
    phu, từ các bài viết của nhiều nhà
    nghiên cứu thuộc các lĩnh vực: lịch sử,
    khảo cứu, đồ bản, địa lý, văn hóa... tạo
    thành một hệ thống tư liệu, thư tịch
    phong phú, khoa học, chuẩn xác
    nhằm khẳng định hai quần đảo Hoàng
    Sa - Trường Sa từ lâu đã thuộc chủ
    quyền của Việt Nam ” ... “Đây là cuốn
    sách cần cho mọi người mọi nhà, cần
    cho hôm nay và mai sau!” .
    (Báo Quân đội nhân dân cuối tuần,
    số ra ngày 15-12-2013)

    NHIẾU TÁC GIẢ

    HOÀNG SA, TRUỞNG SA

    £à

    má»

    t&ịt

    (Tai bản có sủa chũa, bổ sung)

    Sách cho
    Sách cho hôm nay mai sau.

    mọingười,

    NHÀ XUẤT IĨẢN THÔNG TIN VÀ TRUYỂN t h ô n g

    nhà;

    HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
    Là máu thịt Việt Nam
    CÁC TÁC GIẢ

    TS. MAI HỒNG - PGS. TS. LÊ TRỌNG
    (Đồng chủ biên)
    Nhà
    nghiêncứu LS. NGUYỄN ĐẮC XUÂN
    Nhà văn HOÀNG Q u ố c HẢI
    Nhà báo VĂN CUỜNG
    Nhà báo HIỆP ĐỨC
    Tiến
    sĩ Sử họcĐINH CÔNG v ĩ
    Nhà
    nghiên
    cứuLS. PHAN DUY KHA
    Nhà báo TỪ KHÔI
    Nhà báo TRẦN VÂN HẠC
    Nhà văn MAI NGỌC v ò
    Luật gia BÙI PHÚC HẢI
    CHÂN DUNG HAI V| CHỦ BIÊN

    TS. MAI HỔNG

    PGS.TS. LÊ TRỌNG

    - Sinh: Mậu Dần, 1938.
    - Quê: Vũ Thư, Thái Bình.
    - Nguyên Trưởng phòng TƯ liệu Hán
    Nôm (Viện Hán - Nôm).
    - Hiện nay: Giám đốc Trung tàm Nghiên
    cứu & ứng dụng Phả học Việt Nam.

    - Sinh: Bính Dần, 1926.
    - Quê: Đảo Lý Sơn.
    - Nguyên Viện trưởng Viện Phát triển
    quốc tế học (I.I.D).
    - Hiện nay: sống và viết tại Hà Nội.

    Tiến sĩ Mai Hổng là người hơn 30
    năm cất giữ “'Hoàng
    trực tỉnh địa
    dư toàn đồ" - tâm bản đồ cổ của Trung
    Quốc, công bô" năm 1904, không hề có
    hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
    trong lãnh thổ nước họ.

    PGS.TS. Lê Trọng là người con của đảo
    Lý Sơn - tiền đồn canh giữ Hoàng Sa,
    Trường Sa. Tuổi niên thiêu, hàng năm vào
    ngày 20 tháng 2 âm lịch, ông thường đội
    mâm xôi đến Nghĩa Tự cúng tế vong linh
    những người lính đã hy sinh nơi biển cả
    khi thi hành nhiệm vụ Vua sai ra đảo
    Hoàng Sa, Trường Sa khai thác, quản giữ.
    Ông đã có nhiều tác phẩm (khảo cứu,
    báo, văn, thơ) viết về biển đảo quê hương.

    LỜI GIỚI THIỆU
    Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là những vùng đất
    thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Dù cách xa đất liền
    hàng trăm hải lý nhưng nơi đảo xa ấy luôn chiếm một vị trí
    quan trọng trong trái tim mỗi người dân đất Việt. Trong ngàn
    năm lịch sử, biết bao thế hệ cha anh đã chiến đấu quên
    mình, hy sinh nơi biển cả để giữ vững chủ quyền biển, đảo.

    Cuốn sách “Hoàng Sa, Trường Sa /à máu thịt Việt
    Nam” do Tiến sĩ Mai Hồng và PGS. TS. Lê Trọng đồng chủ
    biên (Nhà xuất bản Thông
    tinvà Truyền thôn
    Trung tâm Văn hoá Tràng An xuất bản - phát hành) là một
    công trình được chuẩn bị hết sức công phu với hệ thống tư
    liệu phong phú có giá trị khoa học, lịch sử và pháp lý cao.
    Đặc biệt, việc sưu tầm và công bố hàng loạt những bản đồ
    cùng các thư tịch cổ của Trung Quốc và tài liệu phương Tây
    đã chứng minh những yêu cầu về chủ quyền của Trung
    Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không
    có căn cứ. Những tư liệu quý giá ấy là bằng chứng hùng hồn
    để khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với
    Hoàng Sa và Trường Sa.
    Cuốn sách này đã thêm một lần nữa ghi lại những khúc
    tráng ca về đội hung binh giữ đảo từ dời này qua đời khác, về
    cuộc sống sinh động của những con người nơi đầu ngọn sóng
    hôm nay. Họ là những con người đang viết tiếp bài ca giữ
    nước của ông cha ta để Hoàng Sa, Trường Sa mãi mãi là máu
    của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam.
    Hà Nội, ngày 12 tháng 8 năm 2013

    GS. Vũ Khiêu

    VINH QUANG THAY HẢI QUÂN VIỆT NAM!

    5

    HOÀNG SA - TRƯỜNG SA LÀ MÁU THỊT
    VIỆT NAM MÃI MÃI KHÔNG THỂ CAT r ờ i
    TS. Đinh Công Vĩ

    Nhà cầm quyền hiện đại Trung Hoa(1) vài chục năm trở lại
    đây đã ngày càng lộ rõ tham vọng đối với hai quần đảo Hoàng
    Sa (quốc tế gọi là Paracels) và Trường Sa (quốc tế gọi là
    Spratley hoặc Spratly) vốn là máu thịt của Việt Nam mà họ đã
    “Trung Quốc hóa” dưới các cái tên áp đặt “Tây Sa” và “Nam Sa”.
    Thực ra, hai cái tên địa danh đó chỉ mới xuất hiện trên
    sách vở của Trung Hoa sớm nhất là vào năm 1947 trở đi. Lục
    ấy, lợi dụng nước ta đang dồn toàn bộ sức lực cho cuộc kháng
    chiến trường kỳ chông thực dân Pháp, họ đã nêu ra chuyện
    phi lý đó. Mãi tới ngày 30/01/1980, sau cuộc xâm lược phi
    nghĩa ở biên giới phía Bắc nước ta, nhà cầm quyền hiện đại
    Bắc Kinh mới lần đầu tiên buộc phải cố đưa ra văn kiện
    chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc về cái gọi là chủ
    quyền của họ với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt
    Nam. Trung Quốc làm thế để chuẩn bị cho sự kiện tiếp theo
    là vào tháng 3/1988, họ đã bất ngờ đánh chiếm trái phép đảo
    đá Gạc Ma và một số đảo khác do Quân đội nước Cộng hoà
    xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang canh giữ.
    Họ dẫn ra một số sách
    “phát hiện sớm nhất, khai
    “hàng ngàn năm nay, Chính
    đã liên tục thực hiện quyền
    dân Trung Quốc là người chủ

    cổ để nói rằng: Trung Quốc dã
    phá kinh doanh sớm nhất” và
    phủ và các triều đại Trung Quốc
    cai quản hai quần đảo đó, nhân
    không thế' tranh cãi được của hai*

    ,l) Chúng tôi dùng thuật ngữ: “Nhà cầm quyền hiện đại Trung Hoa” đế'
    phân biệt với các nhà cầm quyền Trung Hoa trong quá khứ là tổ tiên của họ
    cho rằng biên giới tận cùng của Trung Hoa ở phía Nam chỉ đến đảo Hổi
    Nam, không tranh chấp đất ngoài cương giới là Hoàng Sa, Trường Sa.

    6

    NHIỀU TÁC GIẢ

    quần đảo đó”. Bất chấp sự thực, họ xuyên tạc rằng: Hoàng Sa
    và Trường Sa của Việt Nam chỉ là những đảo nhỏ và bãi cát
    ven biển miền Trung của Việt Nam để góp phần minh chứng
    cho luận thuyết sai trái là: Hai quần đảo ấy không phải là
    “Tây Sa” và “Nam Sa” của Trung Hoa.
    Vậy sự th ậ t là th ế nào về cái thuyết vu vơ: “Phát hiện
    sớm nhất, khai phá kinh doanh sớm nhất” của họ?

    Văn kiện của Bộ Ngoại giao Trung Quôc công bô" ngày
    30/1/1980 đã viện dẫn, cắt xén hai cuốn sách Nam châu di
    vật
    chívà Phù Nam truyện đời Tam quốc (220-265) để chứng
    minh là: Từ lâu người Trung Hoa đã “phát hiện” Tây Sa và
    Nam Sa. Văn kiện ấy còn nêu lên 6 cuốn sách: Mộng Lương
    lục, Đảo di chí lược, Đông Tây dương khảo, Thuận phong
    tương tống, Chỉ nam chính pháp, Hải quốc văn
    lục từ
    đời Tông đến đời Thanh (Thế kỷ XI đến thế kỷ XIX) để mập
    mờ nói rằng những cuốn sách đó đã “ghi chép tình hình nhân
    dân Trung Quốc hàng ngàn năm nay đã đến quần đảo Tây
    Sa, Nam Sa để làm hàng hải và sản xuất”, lần lượt đặt tên
    cho quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là “Cửu
    loa
    châu”,
    “ThạchĐường”,
    “Thiên Thạch Đường”,
    Thạch Đường”, “Trường Sa”,
    “ TTrường Sa”
    Trường
    S a”...hòng đi tới luận điệu: nhân dân nước họ đã
    phát hiện, khai phá “Tây Sa” và “Nam
    Nhưng đọc kỹ mới thấy rằng: Những đoạn trích dẫn
    trong hai cuôn sách đời Tam quốc của họ là những đoạn cắt
    xén mơ hồ. Còn sáu cuôn sách sau chủ yếu vẫn chỉ là chép
    nhặt những hiểu biết của người Trung Quốc đương đại về lịch
    sử, địa lý, phong tục... của các nước thuộc khu vực Đông Nam
    Á và Nam Á, và đường hàng hải từ nước họ ra nước ngoài mà
    không hề có bất kỳ sự ghi lại nào về việc dân Trung Quốc
    đến hai quần đảo này
    “làmhàng hải và sản

    Nhữ

    h o à n g s a , t r ư ò n g s a l à m á u t h ị t v iệ t n a m

    7

    tên cổ mà họ cho là các sách đã “đặt” cho hai quần đảo cũng
    chỉ là những cái tên mà người Trung Quốc thời xưa dùng dể
    tả lại đường hàng hải Biển Đông hoặc về địa lý nước ngoài.
    Những địa danh ấy không phải là của Trung Quốc và hoàn
    toàn không có một giá trị pháp lý nào để họ dựa vào đó mà
    khẳng, định liều rằng những đảo đó của người Trung Quôc.
    Kế' cả sự “phát hiện” của người nước họ dù có th ật thì cũng
    chẳng có cơ sở pháp lý để chứng minh rằng vào các thời ấy
    hai quần đảo mà họ gọi là “Tây Sa”, “Nam Sa” thuộc chủ
    quyền Trung Quốc. Và nếu có sự
    phá
    * của
    người Trung Quốc ở “Tây Sa”, “Nam Sa” thì đó cũng chỉ là
    sự khai phá, kinh doanh của tư nhân Trung Quốc ra nước
    ngoài, chứ không phải là chủ trương của Nhà nước. Vậy cái
    gọi là chủ quyền của nước họ về hai quần đảo ây mới mơ hồ
    làm sao?
    Còn các thuyết vu vơ nữa về sự
    của các triều
    đại Trung Quốc thì thế nào? Điều cơ bản nhất, cần thiết nhất
    không thể khồng có sự đòi hỏi của dư luận là: các nhà nước
    Trung Quổc đã chiếm hữu hai quần đảo ấy từ lúc nào và như
    thế nào? Trung Quốc đã bất lực, không thể giải đáp được câu
    hỏi hóc búa ấy. Vậy buộc họ phải nói chung chung rằng
    “Chính phủ các triều-đại Trung Quốc đã liên tục thực hiện
    quyền cai quản hai quần đảo đó”. Để chứng minh cho luận
    điệu chung chung đó, họ không thể không nêu ra một sô' sự
    kiện từ thế kỷ XI đến XIX, nhấn mạnh hơn là 3 sự kiện sau
    đây mà họ trích dẫn, cắt xén ở sách cổ:

    - Sách “Vũ
    kinh tổng
    yếu”v iết đời Tông N
    (1023-1063) nêu: Triều đình Bắc Tông “lệnh cho quân nhà
    vua đi trấn giữ, đặt dinh lũy thủy quân tuần biển” ở Quảng
    Nam (tức Quảng Đồng thời nay) “đóng tàu chiến đao ngư” “từ
    đồn Mân Sơn, theo gió đông đi về hướng tây nam 7 ngày thì

    8

    NHIỀU TÁC GIẢ

    đên cửu Nhũ Loa Châu”. Họ nói rằng “
    Nhũ Loa

    “quần đảo Tây Sa” nên cái kết luận: “triều đình Bắc Tông
    đặt quần đảo Tây Sa vào phạm vi cai quản của mình”, “hải
    quân Trung Quốc đã tuần tra đến vùng quần đảo Tây Sa”
    cũng chỉ là kết luận không có căn cứ xác đáng. Có nêu lên
    nguyên văn toàn bộ “Vũ
    kinh tổng yếu” mớ
    mẹo trích dẫn và thêm th ắt của họ: “Lệnh cho quân nhà vua
    đi trấn giữ, đặt dinh lũy thủy quân tuần biển ở hai cửa biển
    phía Đông và phía Tây rộng 280 trượng đến đồn Môn Sơn
    200 lý đóng tàu chiến đao ngư. Từ đồn Môn Sơn theo gió
    đông đi về hướng Tây Nam 7 ngày thì đến Cửu Nhũ Loa
    Châu, đi 3 ngày nữa đến Bất Lạo Sơn (thuộc địa giới nước
    Hoàn Châu, đi 300 hải lý nữa về phía Nam đến Lăng Sơn
    Đông. Phía Tây Nam nơi đó là các nước Đại Thực Phật, Sư
    Tử,
    Thiên
    Trúc,không thể tính được hành trình”. Phải giải
    thích mới rõ: đồn Môn Sơn có vị trí ở cửa sông Châu Giang
    (thuộc tỉnh Quảng Đông); Bất Lạo Sơn chính là Cù Lao Chàm
    ở nước Hoàn Châu (tức Chiêm Thành); Đại Thực Phật được
    các sách cổ Trung Quôc từng viết là nước Đại Thực, một nước
    phong kiến thời Trung cổ ở vịnh Ba Tư đời nay. Sư Tử là
    nước Srilanka, Thiên Trúc là nước Ấn Độ. Các sách Đường
    Thư, Tống sử, Cổ
    kim đồ thư tập thành của chính nước
    khẳng định sự thực ấy. Vậy, không thể biện bạch được là: Sự
    kiện trên chỉ nói việc vua Bắc Tông ra lệnh “đặt dinh lũy
    thủy quân tuần biển” ở cửa biển Quảng Châu, có đoạn tả lại
    vị trí địa lý nơi đặt dinh lũy thủy quân, có đoạn tả lại đường
    biển từ cửa biển Quảng Châu sang Ấn Độ Dương, tìm đâu
    thấy được đoạn văn nói rằng, thủy quân Trung Quôc đi tuần
    tra đến quần đảo “Tây Sa”? Còn về tên các sách trên, họ
    cũng dịch sao cho có lợi cho mình khi bịa đặt, như sách 'Đảo
    di
    chílược” nghĩa là: Xem xét khái lược về các nước man di
    (tức là nước ngoài theo cách gọi khinh miệt của họ) trên đảo,

    HOẢNG SA, TRƯỜNG SA LÀ MÁU THỊT VIỆT NAM

    thì họ dịch
    “H ả i q u
    mắt thấy về
    mắt thấy về

    9

    là “Xem xét, khái quát về các đảo”; hoặc sách
    ố c vãn
    kiến lục” đúng nghĩa là “Những điều t
    nước ngoài”, thì họ dịch là: “Những điều tai nghe
    những vùng ven biển”.

    - Sách “Nguyên
    sử”,bộ sử chính thức của triề
    Nguyên từng ghi: “Việc đo bóng mặt trời bôn biển ở hai
    mươi bảy nơi. Phía đông đến Cao Ly, phía tây đến Điền Trì,
    phía nam qua Chu Nhai, phía bắc đến Thiết Lặc. Theo đầu
    đề
    “Đođạc 4
    biển”.“Nguyên
    *n
    sử
    đo đạc trong đó có Cao Ly, Thiết Lặc, Bắc Hải, Nam Hải.
    Phải biết rằng Cao Ly tức Triều Tiên, Thiêt Lặc thuộc Xibia
    của nước Nga, Bắc Hải nay là vùng biển phía bắc Xibia,
    Nam Hải là Biển Đông nói chung (phần biền Nam Thái
    Bình Dương). Những vùng ây nằm trong “bôn biển” chứ
    không nằm ở
    “toànquốc” của nước họ. Ngay trong “Nguyên
    sử”,phần Địa lý
    chívà
    Lịchđại
    cũng nêu rõ “Cương vực” Trung Quôc đời Nguyên, phía nam
    chỉ đến đảo Hải Nam, phía bắc không quá sa mạc Gôbi.
    Vậy, làm sao có chuyện quần đảo với tên gọi là “Tây Sa” lúc
    ấy đã nằm trong cương vực Trung Quốc đời Nguyên?
    Phải nói rõ thêm rằng: Tống, Nguyên - hai triều đại gắn
    với nội dung những cùổn sách trên là những triều đại đã thất
    bại thảm hại về quân sự tại Việt Nam, đặc biệt là thất bại về
    mặt thuỷ quân trên sông Bạch Đằng (“Đằng giang tự cổ
    huyết do
    hồng...”)thì làm sao mà vươn tới biển được? Đại
    thần Triều Bổ Chí dâng sớ trần tình với Tông Thần Tông và
    Tể tướng Vương An Thạch rằng: “Quân Tông nhát sóng hơi
    có gió đã sợ rồi... còn người Giao Chỉ giỏi thuỷ chiến làm sao
    địch nổi?”. Các vua Tông, từ Bắc Tống đến Nam Tống yếu
    hèn, liên tục bị các nước Liêu, Kim, Hạ bắt nạt. Các vua
    Tông Huy Tông, Tông Khâm Tông bị cầm tù chêt nhục ỏ'

    10

    NHIỀU TÁC GIẢ

    nước Kim. Vậy mà họ vẫn quỳ gối xưng thần với phương Bắc,
    một mặt đàn áp các anh hùng chủ chiến bảo vệ cương giới
    như Nhạc Phi... Con đường xuống dốc không phanh ấy góp
    phần làm cho nưó[c Trung Hoa từng vỗ ngực tự hào phải nằm
    bẹp dưới chân ngựa của người Mông cổ hàng th ế kỷ. Đại
    thần nhà Tông là Lục Tú Phu phải cõng vua Tống là Đế Bính
    nhảy xuống biển tự tử. Thái hậu nhà Tống cũng chết chìm
    trên Biển Đông cùng hàng vạn người Trung Hoa khác. Vậy
    nước họ thời ấy làm sao có thể chiếm lĩnh được Biển Đông?!

    Đến các đời sau đó: Họ còn dẫn sự kiện viên phó tướng
    thủy quân Ngô Thăng đi tuần tiễu biển vào khoảng năm 1710
    đến năm 1712 đời Thanh "... từ Quỳnh Nhai qua Đồng cổ, qua
    Thất Châu Dương, Tứ Canh Sa, vòng quanh ba ngàn dặm,
    đích thân đi tuần tra xem xét” để nói là: “Thất Châu Dương
    là vùng biển quần đảo Tây Sa ngày nay, lúc đó do hải quân
    tỉnh Quảng Đông phụ trách tuần tiễu”. Nhưng họ làm sao
    chối cãi được sự th ật là: Theo các sách của chính nước họ,
    như “Trung
    văn đại từ điển” (Đài Loan xuất bản năm 1963
    ghi rõ: Quỳnh Nhai tức “Đạo binh bị Quỳnh Nhai” (đảo Hải
    Nam) đời Thanh, lỵ sở
    ởQuỳnh Sơn, gần thị trấ
    ngày nay, phía bắc đảo Hải Nam; “Trung Quôc tân dư đồ”
    (Thương vụ ấn thư quán Thượng Hải xuất bản năm 1917) cho
    thấy: Đồng cổ ở mỏm đông bắc đảo Hải Nam... Tứ Canh Sa là
    bãi cát ở phía tây đảo Hải Nam;
    đồ Trung Quốc” tỷ lệ
    1/500.000 do Trung Quốc in vào tháng 5 năm 1965, bằng chữ
    Trung Quốc và Việt Nam, mảnh “bán đảo Lôi Châu và đảo
    Hải Nam” cũng cho thấy: Thất Châu Dương là vùng biển có 7
    hòn đảo gọi là Thất Châu, nằm ở phía đông đảo Hải Nam.
    Như vậy, họ đang phản bác lại những điều mà chính miệng
    họ đã nói, chính tay họ đã viêt vẽ ra; và xổ toẹt vào cái luận
    điệu: “Thất Châu Dương là vùng biển quần đảo Tây Sa ngày

    HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ MÁU THỊT VIỆT NAM

    11

    nay...”. Tác phẩm “Hoàng
    triềutrực
    nhà Thanh, công bô' 1904, mà mới đây Tiến sỹ Mai Hồng đã
    hiến tặng cho Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam sau nhiều
    năm cất giữ cho thấy: Địa danh cực nam của Trung Quốc là
    đảo Hải Nam. Nhiều tấm bản đồ khác của chính Trung Quốc
    vào các đời Tông, Nguyên, Minh, Thanh đến Trung Hoa Dân
    quô'c ti'0ng khoảng 30 năm đầu thế kỷ XX đều thông nhất với
    cương giới ấy. Vậy Thất Châu Dương ỗ phía đông đảo Hải
    Nam làm sao có cánh mà bay ra ngoài, để thành vùng biển
    quần đảo Tây Sa ngày nay?

    địa dư toàn

    Họ còn cho rằng vài cuốn địa phương chí các đời Minh,
    Thanh như “Quảng Đông thông
    “Quỳnh Châu phủ
    “Vạn Châu
    chí”có nêu: “Vạn Châu có Thiên lý Trường Sa,
    Vạn Lý Thạch Đường” để minh chứng “lúc ấy quần đảo Tây
    Sa và Nam Sa là thuộc Vạn Châu, phủ Quỳnh Châu, tỉnh
    Quảng Đông”. Song, trong bộ sách địa lý chính thức được
    nhiều người biết là “Đại Thanh nhât thông
    do Quôc sử
    quán nhà Thanh biên soạn, có lời tựa của vua Tuyên Thông
    lại không có chỗ nào ghi “Thiên lý Trường Sa”, “Vạn lý
    Trường Sa” thuộc địa hạt Vạn Châu phủ Quỳnh Châu, tỉnh
    Quảng Đông cả. Hẳn thế, nên họ né tránh đã lờ đi cả một
    cuốn sách chính thông, vào loại tư liệu quôc gia ấy.
    Họ còn cho rằng: Hoàng Sa của Việt Nam không phải là
    “Tây Sa” của Trung Quốc, Trường Sa của Việt Nam không
    phải là “Nam Sa” của Trung Quốc. Hai quần đảo của Việt
    Nam ấy chỉ có thể là "... những đảo và bãi cát ven biển miền
    Trung Việt Nam”. Song, như thế tức là họ vừa phải thừa
    nhận có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam;
    vừa nguy biện: cũng có quần đảo Tây Sa và Nam Sa của
    Trung Quôc. Vậy: Tây S cl và Nam Sa là gì? ỡ nơi đâu?
    Sự thực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ rất lâu,

    12

    NHIỀU TÁC GIẢ

    khi Trung Quốc chưa biết hoặc chưa để ý tới thì chúng đã
    thuộc lãnh thổ Việt Nam rồi. Chúng được in, chép trên nhiều
    thư tịch cổ Việt Nam và vẽ trên nhiều bản đồ Việt Nam (rõ
    nhất là ở các Châu bản Triều Nguyễn) và phương Tây (với
    các tên Paracels và Spratley hoặc Spratly) mà họ nhận liều
    là của Trung Quốc, rồi đặt cho chúng những tên “Tây Sa”,
    “Nam Sa”. Sách “Phủ biên
    tạpcủa Lê Qu
    rất rõ đảo Đại Trường Sa ở phía ngoài cù lao Ré đi 3 ngày
    đêm mới đến. Bản “Đại Nam
    thống toàn
    * cũng hằn
    rõ nét vẽ “Hoàng Sa”, “Vạn lý Trường Sa” ở ngoài các đảo
    ven biển Việt Nam như cù lao Ré, cù lao Chàm, cù lao Xanh,
    cù lao Thu... chứ đâu có phải chỉ là “những đảo và bãi cát ven
    biển
    miền Trung Việt Nam”? Năm 1838, Giám mục Taberd
    đã in tâm “An Nam Đại quốc họa đồ” trong cuốn Từ điển La
    tinh
    -Việt Nam. Trong bản đồ đó, bên ngoài các đảo chính ở
    ven biển miền Trung Việt Nam như cù lao Chàm, cù lao Ré,
    cù lao Xanh, cù lao Thu, Hòn Tre... đã ghi rất rõ “Paracel hay
    cát vàng” (Paracel xen cát vàng). Còn nhiều bản đồ khác của
    các nhà hàng hải phương Tây ở cắc thế kỷ XVI, XVII, XVIII
    cũng vẽ Pracel hay Parcel đều ở khu vực các quần đảo Parcels
    và Spratly ngày nay, ở bên ngoài các đảo ven biển miền
    Trung Việt Nam. Những thư tịch, đồ bản đó là sự thực không
    thể chối cãi. Năm 1959, 82 ngư dân nước Cộng hòa nhân dân
    Trung Hoa đi 3 chiếc thuyền đổ bộ trái phép lên 3 đảo của
    Hoàng Sa (Paracels) là Quang Hòa, Hữu Nhật, Duy Mộng đã
    bị Quân đội Việt Nam cộng hòa bắt giữ. Bộ Ngoại giao Trung
    Quốc ngày 29/2/1959 đã ra tuyên bố “phản
    nhà cầm
    quyền Sài Gòn. Các ngư dân nước họ nói trong bản tuyên bô'
    ấy rõ ràng bị bắt đâu phải ở những đảo ven biển miền Trung
    mà chính là ở 3 đảo trong quần đảo Hoàng Sa của nước ta.
    Ngày 19/1/1974 nhà cầm quyền Sài Gòn đã tố cáo các lực

    HOẢNG SA, TRƯỜNG SA LÀ MÁU THỊT VIỆT NAM

    13

    lượng VÕ trang Trung Quốc đánh chiếm bất hợp pháp quần
    đảo Hoàng Sa và Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bô" ngày
    20/1/1974, đã biện hộ cho hành động xâm lược đó của họ.
    Cuộc xung đột ấy với sự hy sinh anh dũng của 74 chiến binh
    Việt Nam cộng hoà dã xảy ra trên quần đảo Hoàng Sa mà họ
    gọi là Tây Sa, chứ đâu phải là ở trên các đảo ven biển Trung
    Bộ Việt Nam? Sau sự thật lịch sử đó, cho đên nay, họ vẫn
    ngang nhiên chiếm đóng Paracels, tức xâm lược Hoàng Sa, ở
    phía đông các đảo ven biển nước ta.
    Rõ ràng, Hoàng Sa và Trường Sa từ xưa đên nay chưa bao
    giờ là của Trung Quốc. Đó chính là máu thịt của Việt Nam.
    Hai quần đảo ấy nhất quyết không phải vì cái tên áp đặt
    “TrungQuốc hóa” để trở thành lãnh thổ của họ và hòng lấp
    liếm, hoặc bằng cách thay đổi vị trí địa lý theo sự dàn dựng
    của nước lớn.
    Cái mơ hồ nhất của phía Trung Quốc là từ trước đến nay
    họ chưa bao giờ có được bằng chứng để nói một cách đàng
    hoàng rằng: Nhà nước Trung Quôc đã từng bước thực hiện và
    xác lập chủ quyền chính đáng của mình đôi với hai quần đảo
    Hoàng Sa, Trường Sa.
    Trong khi đó, chúng ta có đầy đủ chứng cứ lịch sử, pháp
    lý để khẳng định rằng: “Nhà nước Việt Nam qua nhiều thời
    đại đã liên tiếp thực hiện và tỏ rõ chủ quyền chính đáng của
    mình đối với hai quần dảo ấy”.
    Sau đây là những minh chứng:
    Từ rất lâu Nhà nước Việt Nam qua các thời đại đã liên
    tục chiếm hữu và thực hiện đầy đủ chủ quyền của mình đôi
    với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đên thê ky XVII,
    hai quần đảo ấy đã được xác định rất rõ trên bản đồ lãnh thổ
    Việt Nam.

    14

    NHIỀU TÁC GIẢ

    Với
    tầm mắt
    ViệtNam: Hàng loạt sách
    cổ của Việt Nam đã ghi rõ: Hoàng Sa, Vạn lý Trường Sa,
    hoặc Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa, Bãi Cát vàng từ lâu
    đã là lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam. Trong
    “Toàn tập Thiển Nam tứ
    chílộ đồ thứ”, tập
    do Đỗ Bá soạn vẽ vào th ế kỷ XVII ghi rõ ràng trong lời chú
    giải bản đồ vùng phủ Quảng Nghĩa, xứ Quảng Nam như sau:
    “Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”, "... họ
    Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc
    thuyền đến lấy hóa vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ,
    súng đạn”. Trong “Giáp Ngọ bình Nam đồ”, bản đồ xứ Đàng
    Trong do Đoan quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774, khi ông
    làm Đổc suất Bình Nam Đại tướng quân theo lệnh Chúa
    Trịnh Sâm đi đánh Đàng Trong thì Bãi Cát vàng cũng được
    vẽ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam. “Phủ biên tạp
    lục”,cuốn sách do nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) đích
    thân soạn trong thời gian ông được triều Lê - Trịnh bổ nhiệm
    vào trấn trị tại phía Nam đã ghi: đảo Đại Trường Sa (tức
    Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Ngãi: “Xã An
    Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa, ở ngoài cửa biển có
    núi gọi là cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm, có phường Tứ Chính,
    dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa
    lại có đảo Đại Trường Sa. Trước kia có nhiều hải vật và hóa
    vật của tàu biển, lập dội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm
    mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải”. “Đại Nam nhất thống toàn
    đồ”, bản đồ nước ta vẽ vào thời Minh Mạng (năm 1834) có
    ghi “Hoàng Sa” - “Vạn Lý Trường Sa” thuộc lãnh thổ Việt
    Nam. Cuốn “Đại Nam nhất thống
    do Quốc sử quán nhà
    Nguyễn soạn xong năm 1882 đã ghi rõ: Hoàng Sa là bộ phận
    lãnh thổ Việt Nam thuộc tỉnh Quảng Nghĩa. Đoạn viết về
    hình thể tỉnh này là: “Phía Đông có đảo cát - đảo Hoàng Sa -

    h o à n g s a , t r ư ờ n g s a l à m á u t h ị t v iệ t n a m



    liền với biển làm hào; phía Tây là miền sơn man, có lũy dài
    vững vàng; phía Nam liền với tỉnh Bình Định, có đèo Bến Đá
    chặn ngang; phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam có ghềnh Sa Thổ
    làm giới hạn”.
    Tầm mắt Việt Nam đó đã gặp
    mắt phương Tây: nhiều
    nhà hàng hải, giáo sỹ phương Tây mấy trăm năm trước đều
    thừa nhận Hoàng Sa (Pracel hay Paracel) thuộc lãnh thổ Việt
    Nam. Một vị giáo sỹ phương Tây vào năm 1701 di trên tầu
    Amphitrite từ Pháp sang Trung Quốc đã viết thư trong đó có
    dòng: “Paracel là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam”.
    Năm 1820, cuối đời vua Gia Long, cố vấn của vua, ông J.B
    Chaigneau đã ghi trong phần chú bổ sung vào cuốn Hồi ký về
    nitóc
    Cochinchine:“Nước Cochinchine mà nhà vua bấy giờ đã
    lên ngôi hoàng đế gồm xứ Cochinchine và xứ Đông Kinh... một
    vài đảo có dân cư không xa bờ biển và quần đảo Paracel do
    những đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành...”.
    Nanh từ Cochinchine (tiếng Pháp) hoặc Cochinchina (tiếng
    Anh) trích dẫn ở đây là chỉ chung nước ta thời ấy hoặc chỉ xứ
    Đàng Trong bấy giờ. Còn xứ Đông Kinh là Đàng Ngoài (Le Ton
    Kin) khu vực các chúa Trịnh thống trị dưới danh nghĩa vua Lê.
    Giám mục J.L.Taberd trong bài “ghi chép về địa lý nước
    Cochinchine” xuất bảri năm 1837 đã tả lại: “Pracel hay
    Paracels” là phần lãnh thổ nước Cochinchine và nói rõ người
    Cochinchine gọi Pracel hay Paracels là “cát vàng” (Paracel/ xen
    Cát Vàng) ở bên ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam,
    thuộc khu vực quần đảo Hoàng Sa thời nay. Trong bài Địa lý
    vương quốc
    oclinhaủa Gutzlaft xuất bản năm 1849 có
    C
    đoạn chỉ rõ Paracels thuộc lãnh thổ Việt Nam và chú thích cả
    tên theo cách gọi của người nước ta thuở ấy là “Kát Vàng”.
    Còn tầm mắt Trung Quốc, trước thời kỳ của nhà cầm
    quyền Trung Quốc hiện đại, chưa có một văn kiện nào hay

    16

    NHIỀU TÁC GIẢ

    một tâm bản đồ nào của tổ tiên họ nói đến Hoàng Sa, Trường
    Sa (hay Tây Sa, Nam Sa) là của Trung Quốc. Vào năm 1890,
    tàu Himeji của Nhật Bản bị tai nạn chìm ở Hoàng Sa; vào
    nặm 1895 tàu Bellona của Đức va vào đá ngầm cũng bị đắm
    tại Hoàng Sa. Chủ của hai con tàu Nhật và Đức gặp nạn, bần
    cùng họ đều đã đánh tín hiệu cho nhà chức trách ở Hải Nam
    (vùng đảo nằm trong cương giới của nhà Thanh Trung Quốc
    quản lý). Nhưng chính quyền ở Nam Hải đã làm ngơ, vì họ
    cho rằng họ không có tránh nhiệm với nơi ở ngoài hải phận
    của họ. Với hai vụ việc đó, Chính phủ nước Anh đã gửi công
    hàm phản đôi, nhưng nhà Thanh (Trung Quốc) đã tuyên bố
    chính thức rằng quần đảo này (Hoàng Sa) không thuộc về
    Trung Quốc.
    Trên cơ sở nhận thức ấy, với tư cách của người làm chủ,
    trong mấy trăm năm, nhà nước phong kiến Việt Nam đã liên
    tiếp tiến hành điều tra khảo sát địa hình, tài nguyên hai quần
    đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhiều tài liệu thư tịch Việt Nam
    đã ghi lại sự thực ấy. Ở toàn tập “
    Nam tứ
    lộ đồ thứ”
    đã nêu: “Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là bãi cát vàng, dài độ
    400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển từ cửa Đại Chiêm
    (nay là cửa Đại, thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng - tác giả bài
    này chú) đến cửa Sa Vinh; mỗi lần có gió Tây Nam thì thương
    thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt vào đây, có gió Đông
    Bắc thì thương thuyền đi ở phía ngoài cũng trôi dạt vào đấy,
    đều cùng chết đói hết cả, hàng hóa thì đều để lại ở nơi đó”.
    Ở các bộ sách từ đời Lê đến đời Nguyễn cũng chỉ rõ sự
    thật như: “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn ghi: “Xã An
    Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa ở gần biển, ngoài
    biển về phía Đông Bắc, có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn
    130 hòn cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc
    đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có nước

    h o à n g s a , t r ư ờ n g s a l à m á u t h ị t v iệ t n a m

    17

    ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng
    phẳng, rộng lớn, nước trong suốt tới đáy. Trên đảo có vô số
    tô yên, các thứ chim có hàng ngàn hàng vạn, thấy người thì
    đậu vòng quanh không tránh, trên bãi vật lạ rất nhiều, ốc
    hoa thì có ốc tai voi, to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bẳng
    đầu ngón tay, sắc dục không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo
    làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà, có
    xà cừ để
    khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thế' muôi và
    nấu ăn được”. “Đại
    Nam thực lục
    (do Quốc sử
    nhà Nguyễn soạn) có ghi: “Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ
    Quảng Nghĩa, ở ngoài biển, có hơn 130 bãi cát, cách nhau hoặc
    một ngày đường hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy
    ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa. Trên bãi có giếng nước
    ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích...”. “Đại Nạm
    nhấtthống
    chí”
    ghi: “Đảo Hoàng Sa phía Đông cù lao Ré huyện
    Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ ra khơi thuận gió, ba bốn ngày
    đêm có thể đến. Ở đó có đến hơn một trăm ba mươi đảo nhỏ,
    cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh. Trong đảo
    có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm tục
    gọi là Vạn lý Trường Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển
    tụ tập không biết cơ man nào. Sản xuất nhiều hải sâm, đồi mồi,
    Ốc hoa vích... Hóa vật của các tàu thuyền bị nạn bão trôi giạt ở
    đấy”. “Đại Nani thực lục
    chính
    bi(cũng do Quốc s
    Nguyễn soạn) ghi về việc: Sau khi hoàn thành việc đo đạc, vẽ
    bản đồ Hoàng Sa trở về, Đội trưởng giám thành Trương Phúc Sĩ
    đã tâu với vua Minh Mạng rằng Hoàng Sa “là những bãi cát
    giữa biển, man mác không bờ bên”.

    Các tác phẩm lịch sử, địa lý nổi tiếng đời Nguyễn, như:
    “Lịch
    triều
    hiến chương loại
    cl“Ho
    'Việt
    sử cương giám khảo
    lược”.đ. ều cũng tả
    nét tương tự như thế.

    18

    NHIỀU TÁC GIẢ

    Vì những lợi ích và những đặc điểm như thế, nên các nhà
    nước phong kiến nước ta từ rất lâu đã tổ chức quản lý và khai
    thác liên tục hai quần đảo ấy với tư cách chủ thể có đầy đủ
    chủ quyền và quyền chủ quyền của một quốc gia ở đó. Ở
    “Toản
    tập Thiên Nam tứ
    Nguyễn, mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc
    thuyền đến (Bãi Cát Vàng) lấy hóa vật, được phần nhiều là
    vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”.

    chílộ đ

    “Phủ biên tạp lục” cũng cho thấy: “Trước, họ Nguyễn đặt
    đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt
    phiên mỗi năm cứ tháng Ba nhận giây sai đi, mang lương
    đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền tiểu câu (loại
    thuyền của ngư dân nước ta dùng đánh cá ngoài khơi - tác
    giả chú) ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến các đảo ấy rồi ỗ lại
    đó. Tha hồ kiếm lượm, bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa
    vật của tàu, như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ
    dùng, thiếc khối, chì đen, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ
    chiên cùng là kiếm, lượm mai đồi mồi, mai hải ba, hải sâm,
    hột ốc hoa, rấ t nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về vào cửa Eo,
    đến thành Phú Xuân để nộp. Cân và định hạng xong mới
    cho đem bán riêng các thứ ốc hoa, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh
    bằng trở về”; "... Họ Nguyễn đặt đội Bắc Hải không định bao
    nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc
    người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi,
    miễn cho tiền SƯU cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền tiểu
    câu ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà
    Tiên, tìm lượm hóa vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba,
    bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản”.
    Sách
    ĐạiNam thực lục
    tiền biên làm rõ thêm
    dựng nước, đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An
    Vĩnh sung vào, hàng năm đến tháng 3 đi thuyền ra biển, độ
    3 ngày đêm thì đến, thu lượm hóa vật đến tháng 8 trở về

    h o à n g s a , t r ư ờ n g s a l à m á u t h ị t v iệ t n a m

    19

    nộp. Lại có đội Bắc Hải mộ dân ở phường Tứ Chính ở Bình
    Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền
    ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hóa vật. Đội này
    cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”.
    Thời Tây Sơn, có tờ sai đề vào năm 1786 của quan
    Thượng tướng công ghi việc: “Sai Hội Đức hầu đội Hoàng Sa
    dẫn 4 chiếc thuyền câu vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các
    cù lao trên biển thu lượm đồ vàng bạc, đồ đồng và đại bác,
    tiểu bác (loại pháo cỡ nhỏ - tác giả chú), đồi mồi, hải ba, cùng
    cá quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ”.
    Sau khi tiêu diệt nhà Tây Sơn, lên nắm quyền (năm
    1802) đến khi mất chủ quyền vào tay Pháp sau hòa ước
    Partner (1884) các vua nhà Nguyễn nối tiếp nhà Tây Sơn vẫn
    ra sức giữ vững và hơn nữa còn mở rộng chủ quyền của nước
    ta với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
    Sách “Đại Nam
    thựclục
    động của các vua nhà Nguyễn với hai quần đảo đó như sau:
    Năm 1815, vua Gia Long “cử Phạm Quang Ảnh dẫn đội Hoàng
    Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để khảo sát, đo đạc đường biển”.
    Năm 1816, vua Gia Long “lệnh cho thủy quân cùng đội
    Hoàng Sa ra Hoàng Sa tiếp tục làm những việc năm 1815”.
    Năm 1833, vua Minh Mạng chỉ thị cho Bộ Công chuẩn bị
    thuyền để năm sau sẽ phái tới Hoàng Sa dựng miếu, lập bia,
    trồng nhiều cây côi.
    Năm 1834, vua Minh Mạng cử Đội trưởng giám thành
    Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân 20 người ra Hoàng Sa vẽ
    bản đồ.
    Năm 1835, vua Minh Mạng sai cai đội thủy quân Phạm
    Văn Nguyên đem lính và thợ giám thành cùng phu thuyền
    hai tỉnh Quảng Nghĩa, Bình Định chuyên chở vật liệu đến
    Hoàng Sa dựng miếu. Bên trái miếu dựng bia đá, phía trước
    miếu xây bình phong.

    20

    NHIỀU TÁC GIẦ

    Năm 1836, chuẩn y lời tâu của Bộ Công, vua Minh Mạng
    sai Suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền ra
    Hoàng Sa đo đạc, vẽ bản đồ. Sách “
    Nam thực lục chính
    biên” ghi lại việc này cụ thể như: “K...
     
    Gửi ý kiến