VĂN HÓA ĐỌC NĂM 2025
GIỚI THIỆU SÁCH THEO THÁNG
SÁCH NÓI TỪ KÊNH Voiz FM
Hoàng Sa Trường Sa là máu thịt Việt Nam

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lộc Thị Gái
Ngày gửi: 20h:12' 01-03-2024
Dung lượng: 12.6 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Lộc Thị Gái
Ngày gửi: 20h:12' 01-03-2024
Dung lượng: 12.6 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
“íhCoàng
Sa,Trường Sa là máu
Việt Nam là một tập sách có ý nghĩa
dành cho bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ Việt
Nam, để các em hiểu thêm về 'nguồn cội,
biển, đảo của đất nước và có trách
nhiệm trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam ngàn đời yêu dấu”.
(Báo Nhân dân, số ra ngày 04-6-2014)
“ Cuốn sách được biên soạn công
phu, từ các bài viết của nhiều nhà
nghiên cứu thuộc các lĩnh vực: lịch sử,
khảo cứu, đồ bản, địa lý, văn hóa... tạo
thành một hệ thống tư liệu, thư tịch
phong phú, khoa học, chuẩn xác
nhằm khẳng định hai quần đảo Hoàng
Sa - Trường Sa từ lâu đã thuộc chủ
quyền của Việt Nam ” ... “Đây là cuốn
sách cần cho mọi người mọi nhà, cần
cho hôm nay và mai sau!” .
(Báo Quân đội nhân dân cuối tuần,
số ra ngày 15-12-2013)
NHIẾU TÁC GIẢ
HOÀNG SA, TRUỞNG SA
£à
má»
t&ịt
(Tai bản có sủa chũa, bổ sung)
Sách cho
Sách cho hôm nay mai sau.
mọingười,
NHÀ XUẤT IĨẢN THÔNG TIN VÀ TRUYỂN t h ô n g
nhà;
HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
Là máu thịt Việt Nam
CÁC TÁC GIẢ
TS. MAI HỒNG - PGS. TS. LÊ TRỌNG
(Đồng chủ biên)
Nhà
nghiêncứu LS. NGUYỄN ĐẮC XUÂN
Nhà văn HOÀNG Q u ố c HẢI
Nhà báo VĂN CUỜNG
Nhà báo HIỆP ĐỨC
Tiến
sĩ Sử họcĐINH CÔNG v ĩ
Nhà
nghiên
cứuLS. PHAN DUY KHA
Nhà báo TỪ KHÔI
Nhà báo TRẦN VÂN HẠC
Nhà văn MAI NGỌC v ò
Luật gia BÙI PHÚC HẢI
CHÂN DUNG HAI V| CHỦ BIÊN
TS. MAI HỔNG
PGS.TS. LÊ TRỌNG
- Sinh: Mậu Dần, 1938.
- Quê: Vũ Thư, Thái Bình.
- Nguyên Trưởng phòng TƯ liệu Hán
Nôm (Viện Hán - Nôm).
- Hiện nay: Giám đốc Trung tàm Nghiên
cứu & ứng dụng Phả học Việt Nam.
- Sinh: Bính Dần, 1926.
- Quê: Đảo Lý Sơn.
- Nguyên Viện trưởng Viện Phát triển
quốc tế học (I.I.D).
- Hiện nay: sống và viết tại Hà Nội.
Tiến sĩ Mai Hổng là người hơn 30
năm cất giữ “'Hoàng
trực tỉnh địa
dư toàn đồ" - tâm bản đồ cổ của Trung
Quốc, công bô" năm 1904, không hề có
hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
trong lãnh thổ nước họ.
PGS.TS. Lê Trọng là người con của đảo
Lý Sơn - tiền đồn canh giữ Hoàng Sa,
Trường Sa. Tuổi niên thiêu, hàng năm vào
ngày 20 tháng 2 âm lịch, ông thường đội
mâm xôi đến Nghĩa Tự cúng tế vong linh
những người lính đã hy sinh nơi biển cả
khi thi hành nhiệm vụ Vua sai ra đảo
Hoàng Sa, Trường Sa khai thác, quản giữ.
Ông đã có nhiều tác phẩm (khảo cứu,
báo, văn, thơ) viết về biển đảo quê hương.
LỜI GIỚI THIỆU
Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là những vùng đất
thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Dù cách xa đất liền
hàng trăm hải lý nhưng nơi đảo xa ấy luôn chiếm một vị trí
quan trọng trong trái tim mỗi người dân đất Việt. Trong ngàn
năm lịch sử, biết bao thế hệ cha anh đã chiến đấu quên
mình, hy sinh nơi biển cả để giữ vững chủ quyền biển, đảo.
Cuốn sách “Hoàng Sa, Trường Sa /à máu thịt Việt
Nam” do Tiến sĩ Mai Hồng và PGS. TS. Lê Trọng đồng chủ
biên (Nhà xuất bản Thông
tinvà Truyền thôn
Trung tâm Văn hoá Tràng An xuất bản - phát hành) là một
công trình được chuẩn bị hết sức công phu với hệ thống tư
liệu phong phú có giá trị khoa học, lịch sử và pháp lý cao.
Đặc biệt, việc sưu tầm và công bố hàng loạt những bản đồ
cùng các thư tịch cổ của Trung Quốc và tài liệu phương Tây
đã chứng minh những yêu cầu về chủ quyền của Trung
Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không
có căn cứ. Những tư liệu quý giá ấy là bằng chứng hùng hồn
để khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với
Hoàng Sa và Trường Sa.
Cuốn sách này đã thêm một lần nữa ghi lại những khúc
tráng ca về đội hung binh giữ đảo từ dời này qua đời khác, về
cuộc sống sinh động của những con người nơi đầu ngọn sóng
hôm nay. Họ là những con người đang viết tiếp bài ca giữ
nước của ông cha ta để Hoàng Sa, Trường Sa mãi mãi là máu
của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam.
Hà Nội, ngày 12 tháng 8 năm 2013
GS. Vũ Khiêu
VINH QUANG THAY HẢI QUÂN VIỆT NAM!
5
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA LÀ MÁU THỊT
VIỆT NAM MÃI MÃI KHÔNG THỂ CAT r ờ i
TS. Đinh Công Vĩ
Nhà cầm quyền hiện đại Trung Hoa(1) vài chục năm trở lại
đây đã ngày càng lộ rõ tham vọng đối với hai quần đảo Hoàng
Sa (quốc tế gọi là Paracels) và Trường Sa (quốc tế gọi là
Spratley hoặc Spratly) vốn là máu thịt của Việt Nam mà họ đã
“Trung Quốc hóa” dưới các cái tên áp đặt “Tây Sa” và “Nam Sa”.
Thực ra, hai cái tên địa danh đó chỉ mới xuất hiện trên
sách vở của Trung Hoa sớm nhất là vào năm 1947 trở đi. Lục
ấy, lợi dụng nước ta đang dồn toàn bộ sức lực cho cuộc kháng
chiến trường kỳ chông thực dân Pháp, họ đã nêu ra chuyện
phi lý đó. Mãi tới ngày 30/01/1980, sau cuộc xâm lược phi
nghĩa ở biên giới phía Bắc nước ta, nhà cầm quyền hiện đại
Bắc Kinh mới lần đầu tiên buộc phải cố đưa ra văn kiện
chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc về cái gọi là chủ
quyền của họ với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt
Nam. Trung Quốc làm thế để chuẩn bị cho sự kiện tiếp theo
là vào tháng 3/1988, họ đã bất ngờ đánh chiếm trái phép đảo
đá Gạc Ma và một số đảo khác do Quân đội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang canh giữ.
Họ dẫn ra một số sách
“phát hiện sớm nhất, khai
“hàng ngàn năm nay, Chính
đã liên tục thực hiện quyền
dân Trung Quốc là người chủ
cổ để nói rằng: Trung Quốc dã
phá kinh doanh sớm nhất” và
phủ và các triều đại Trung Quốc
cai quản hai quần đảo đó, nhân
không thế' tranh cãi được của hai*
,l) Chúng tôi dùng thuật ngữ: “Nhà cầm quyền hiện đại Trung Hoa” đế'
phân biệt với các nhà cầm quyền Trung Hoa trong quá khứ là tổ tiên của họ
cho rằng biên giới tận cùng của Trung Hoa ở phía Nam chỉ đến đảo Hổi
Nam, không tranh chấp đất ngoài cương giới là Hoàng Sa, Trường Sa.
6
NHIỀU TÁC GIẢ
quần đảo đó”. Bất chấp sự thực, họ xuyên tạc rằng: Hoàng Sa
và Trường Sa của Việt Nam chỉ là những đảo nhỏ và bãi cát
ven biển miền Trung của Việt Nam để góp phần minh chứng
cho luận thuyết sai trái là: Hai quần đảo ấy không phải là
“Tây Sa” và “Nam Sa” của Trung Hoa.
Vậy sự th ậ t là th ế nào về cái thuyết vu vơ: “Phát hiện
sớm nhất, khai phá kinh doanh sớm nhất” của họ?
Văn kiện của Bộ Ngoại giao Trung Quôc công bô" ngày
30/1/1980 đã viện dẫn, cắt xén hai cuốn sách Nam châu di
vật
chívà Phù Nam truyện đời Tam quốc (220-265) để chứng
minh là: Từ lâu người Trung Hoa đã “phát hiện” Tây Sa và
Nam Sa. Văn kiện ấy còn nêu lên 6 cuốn sách: Mộng Lương
lục, Đảo di chí lược, Đông Tây dương khảo, Thuận phong
tương tống, Chỉ nam chính pháp, Hải quốc văn
lục từ
đời Tông đến đời Thanh (Thế kỷ XI đến thế kỷ XIX) để mập
mờ nói rằng những cuốn sách đó đã “ghi chép tình hình nhân
dân Trung Quốc hàng ngàn năm nay đã đến quần đảo Tây
Sa, Nam Sa để làm hàng hải và sản xuất”, lần lượt đặt tên
cho quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là “Cửu
loa
châu”,
“ThạchĐường”,
“Thiên Thạch Đường”,
Thạch Đường”, “Trường Sa”,
“ TTrường Sa”
Trường
S a”...hòng đi tới luận điệu: nhân dân nước họ đã
phát hiện, khai phá “Tây Sa” và “Nam
Nhưng đọc kỹ mới thấy rằng: Những đoạn trích dẫn
trong hai cuôn sách đời Tam quốc của họ là những đoạn cắt
xén mơ hồ. Còn sáu cuôn sách sau chủ yếu vẫn chỉ là chép
nhặt những hiểu biết của người Trung Quốc đương đại về lịch
sử, địa lý, phong tục... của các nước thuộc khu vực Đông Nam
Á và Nam Á, và đường hàng hải từ nước họ ra nước ngoài mà
không hề có bất kỳ sự ghi lại nào về việc dân Trung Quốc
đến hai quần đảo này
“làmhàng hải và sản
Nhữ
h o à n g s a , t r ư ò n g s a l à m á u t h ị t v iệ t n a m
7
tên cổ mà họ cho là các sách đã “đặt” cho hai quần đảo cũng
chỉ là những cái tên mà người Trung Quốc thời xưa dùng dể
tả lại đường hàng hải Biển Đông hoặc về địa lý nước ngoài.
Những địa danh ấy không phải là của Trung Quốc và hoàn
toàn không có một giá trị pháp lý nào để họ dựa vào đó mà
khẳng, định liều rằng những đảo đó của người Trung Quôc.
Kế' cả sự “phát hiện” của người nước họ dù có th ật thì cũng
chẳng có cơ sở pháp lý để chứng minh rằng vào các thời ấy
hai quần đảo mà họ gọi là “Tây Sa”, “Nam Sa” thuộc chủ
quyền Trung Quốc. Và nếu có sự
phá
* của
người Trung Quốc ở “Tây Sa”, “Nam Sa” thì đó cũng chỉ là
sự khai phá, kinh doanh của tư nhân Trung Quốc ra nước
ngoài, chứ không phải là chủ trương của Nhà nước. Vậy cái
gọi là chủ quyền của nước họ về hai quần đảo ây mới mơ hồ
làm sao?
Còn các thuyết vu vơ nữa về sự
của các triều
đại Trung Quốc thì thế nào? Điều cơ bản nhất, cần thiết nhất
không thể khồng có sự đòi hỏi của dư luận là: các nhà nước
Trung Quổc đã chiếm hữu hai quần đảo ấy từ lúc nào và như
thế nào? Trung Quốc đã bất lực, không thể giải đáp được câu
hỏi hóc búa ấy. Vậy buộc họ phải nói chung chung rằng
“Chính phủ các triều-đại Trung Quốc đã liên tục thực hiện
quyền cai quản hai quần đảo đó”. Để chứng minh cho luận
điệu chung chung đó, họ không thể không nêu ra một sô' sự
kiện từ thế kỷ XI đến XIX, nhấn mạnh hơn là 3 sự kiện sau
đây mà họ trích dẫn, cắt xén ở sách cổ:
- Sách “Vũ
kinh tổng
yếu”v iết đời Tông N
(1023-1063) nêu: Triều đình Bắc Tông “lệnh cho quân nhà
vua đi trấn giữ, đặt dinh lũy thủy quân tuần biển” ở Quảng
Nam (tức Quảng Đồng thời nay) “đóng tàu chiến đao ngư” “từ
đồn Mân Sơn, theo gió đông đi về hướng tây nam 7 ngày thì
8
NHIỀU TÁC GIẢ
đên cửu Nhũ Loa Châu”. Họ nói rằng “
Nhũ Loa
là
“quần đảo Tây Sa” nên cái kết luận: “triều đình Bắc Tông
đặt quần đảo Tây Sa vào phạm vi cai quản của mình”, “hải
quân Trung Quốc đã tuần tra đến vùng quần đảo Tây Sa”
cũng chỉ là kết luận không có căn cứ xác đáng. Có nêu lên
nguyên văn toàn bộ “Vũ
kinh tổng yếu” mớ
mẹo trích dẫn và thêm th ắt của họ: “Lệnh cho quân nhà vua
đi trấn giữ, đặt dinh lũy thủy quân tuần biển ở hai cửa biển
phía Đông và phía Tây rộng 280 trượng đến đồn Môn Sơn
200 lý đóng tàu chiến đao ngư. Từ đồn Môn Sơn theo gió
đông đi về hướng Tây Nam 7 ngày thì đến Cửu Nhũ Loa
Châu, đi 3 ngày nữa đến Bất Lạo Sơn (thuộc địa giới nước
Hoàn Châu, đi 300 hải lý nữa về phía Nam đến Lăng Sơn
Đông. Phía Tây Nam nơi đó là các nước Đại Thực Phật, Sư
Tử,
Thiên
Trúc,không thể tính được hành trình”. Phải giải
thích mới rõ: đồn Môn Sơn có vị trí ở cửa sông Châu Giang
(thuộc tỉnh Quảng Đông); Bất Lạo Sơn chính là Cù Lao Chàm
ở nước Hoàn Châu (tức Chiêm Thành); Đại Thực Phật được
các sách cổ Trung Quôc từng viết là nước Đại Thực, một nước
phong kiến thời Trung cổ ở vịnh Ba Tư đời nay. Sư Tử là
nước Srilanka, Thiên Trúc là nước Ấn Độ. Các sách Đường
Thư, Tống sử, Cổ
kim đồ thư tập thành của chính nước
khẳng định sự thực ấy. Vậy, không thể biện bạch được là: Sự
kiện trên chỉ nói việc vua Bắc Tông ra lệnh “đặt dinh lũy
thủy quân tuần biển” ở cửa biển Quảng Châu, có đoạn tả lại
vị trí địa lý nơi đặt dinh lũy thủy quân, có đoạn tả lại đường
biển từ cửa biển Quảng Châu sang Ấn Độ Dương, tìm đâu
thấy được đoạn văn nói rằng, thủy quân Trung Quôc đi tuần
tra đến quần đảo “Tây Sa”? Còn về tên các sách trên, họ
cũng dịch sao cho có lợi cho mình khi bịa đặt, như sách 'Đảo
di
chílược” nghĩa là: Xem xét khái lược về các nước man di
(tức là nước ngoài theo cách gọi khinh miệt của họ) trên đảo,
HOẢNG SA, TRƯỜNG SA LÀ MÁU THỊT VIỆT NAM
thì họ dịch
“H ả i q u
mắt thấy về
mắt thấy về
9
là “Xem xét, khái quát về các đảo”; hoặc sách
ố c vãn
kiến lục” đúng nghĩa là “Những điều t
nước ngoài”, thì họ dịch là: “Những điều tai nghe
những vùng ven biển”.
- Sách “Nguyên
sử”,bộ sử chính thức của triề
Nguyên từng ghi: “Việc đo bóng mặt trời bôn biển ở hai
mươi bảy nơi. Phía đông đến Cao Ly, phía tây đến Điền Trì,
phía nam qua Chu Nhai, phía bắc đến Thiết Lặc. Theo đầu
đề
“Đođạc 4
biển”.“Nguyên
*n
sử
đo đạc trong đó có Cao Ly, Thiết Lặc, Bắc Hải, Nam Hải.
Phải biết rằng Cao Ly tức Triều Tiên, Thiêt Lặc thuộc Xibia
của nước Nga, Bắc Hải nay là vùng biển phía bắc Xibia,
Nam Hải là Biển Đông nói chung (phần biền Nam Thái
Bình Dương). Những vùng ây nằm trong “bôn biển” chứ
không nằm ở
“toànquốc” của nước họ. Ngay trong “Nguyên
sử”,phần Địa lý
chívà
Lịchđại
cũng nêu rõ “Cương vực” Trung Quôc đời Nguyên, phía nam
chỉ đến đảo Hải Nam, phía bắc không quá sa mạc Gôbi.
Vậy, làm sao có chuyện quần đảo với tên gọi là “Tây Sa” lúc
ấy đã nằm trong cương vực Trung Quốc đời Nguyên?
Phải nói rõ thêm rằng: Tống, Nguyên - hai triều đại gắn
với nội dung những cùổn sách trên là những triều đại đã thất
bại thảm hại về quân sự tại Việt Nam, đặc biệt là thất bại về
mặt thuỷ quân trên sông Bạch Đằng (“Đằng giang tự cổ
huyết do
hồng...”)thì làm sao mà vươn tới biển được? Đại
thần Triều Bổ Chí dâng sớ trần tình với Tông Thần Tông và
Tể tướng Vương An Thạch rằng: “Quân Tông nhát sóng hơi
có gió đã sợ rồi... còn người Giao Chỉ giỏi thuỷ chiến làm sao
địch nổi?”. Các vua Tông, từ Bắc Tống đến Nam Tống yếu
hèn, liên tục bị các nước Liêu, Kim, Hạ bắt nạt. Các vua
Tông Huy Tông, Tông Khâm Tông bị cầm tù chêt nhục ỏ'
10
NHIỀU TÁC GIẢ
nước Kim. Vậy mà họ vẫn quỳ gối xưng thần với phương Bắc,
một mặt đàn áp các anh hùng chủ chiến bảo vệ cương giới
như Nhạc Phi... Con đường xuống dốc không phanh ấy góp
phần làm cho nưó[c Trung Hoa từng vỗ ngực tự hào phải nằm
bẹp dưới chân ngựa của người Mông cổ hàng th ế kỷ. Đại
thần nhà Tông là Lục Tú Phu phải cõng vua Tống là Đế Bính
nhảy xuống biển tự tử. Thái hậu nhà Tống cũng chết chìm
trên Biển Đông cùng hàng vạn người Trung Hoa khác. Vậy
nước họ thời ấy làm sao có thể chiếm lĩnh được Biển Đông?!
Đến các đời sau đó: Họ còn dẫn sự kiện viên phó tướng
thủy quân Ngô Thăng đi tuần tiễu biển vào khoảng năm 1710
đến năm 1712 đời Thanh "... từ Quỳnh Nhai qua Đồng cổ, qua
Thất Châu Dương, Tứ Canh Sa, vòng quanh ba ngàn dặm,
đích thân đi tuần tra xem xét” để nói là: “Thất Châu Dương
là vùng biển quần đảo Tây Sa ngày nay, lúc đó do hải quân
tỉnh Quảng Đông phụ trách tuần tiễu”. Nhưng họ làm sao
chối cãi được sự th ật là: Theo các sách của chính nước họ,
như “Trung
văn đại từ điển” (Đài Loan xuất bản năm 1963
ghi rõ: Quỳnh Nhai tức “Đạo binh bị Quỳnh Nhai” (đảo Hải
Nam) đời Thanh, lỵ sở
ởQuỳnh Sơn, gần thị trấ
ngày nay, phía bắc đảo Hải Nam; “Trung Quôc tân dư đồ”
(Thương vụ ấn thư quán Thượng Hải xuất bản năm 1917) cho
thấy: Đồng cổ ở mỏm đông bắc đảo Hải Nam... Tứ Canh Sa là
bãi cát ở phía tây đảo Hải Nam;
đồ Trung Quốc” tỷ lệ
1/500.000 do Trung Quốc in vào tháng 5 năm 1965, bằng chữ
Trung Quốc và Việt Nam, mảnh “bán đảo Lôi Châu và đảo
Hải Nam” cũng cho thấy: Thất Châu Dương là vùng biển có 7
hòn đảo gọi là Thất Châu, nằm ở phía đông đảo Hải Nam.
Như vậy, họ đang phản bác lại những điều mà chính miệng
họ đã nói, chính tay họ đã viêt vẽ ra; và xổ toẹt vào cái luận
điệu: “Thất Châu Dương là vùng biển quần đảo Tây Sa ngày
HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ MÁU THỊT VIỆT NAM
11
nay...”. Tác phẩm “Hoàng
triềutrực
nhà Thanh, công bô' 1904, mà mới đây Tiến sỹ Mai Hồng đã
hiến tặng cho Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam sau nhiều
năm cất giữ cho thấy: Địa danh cực nam của Trung Quốc là
đảo Hải Nam. Nhiều tấm bản đồ khác của chính Trung Quốc
vào các đời Tông, Nguyên, Minh, Thanh đến Trung Hoa Dân
quô'c ti'0ng khoảng 30 năm đầu thế kỷ XX đều thông nhất với
cương giới ấy. Vậy Thất Châu Dương ỗ phía đông đảo Hải
Nam làm sao có cánh mà bay ra ngoài, để thành vùng biển
quần đảo Tây Sa ngày nay?
địa dư toàn
Họ còn cho rằng vài cuốn địa phương chí các đời Minh,
Thanh như “Quảng Đông thông
“Quỳnh Châu phủ
“Vạn Châu
chí”có nêu: “Vạn Châu có Thiên lý Trường Sa,
Vạn Lý Thạch Đường” để minh chứng “lúc ấy quần đảo Tây
Sa và Nam Sa là thuộc Vạn Châu, phủ Quỳnh Châu, tỉnh
Quảng Đông”. Song, trong bộ sách địa lý chính thức được
nhiều người biết là “Đại Thanh nhât thông
do Quôc sử
quán nhà Thanh biên soạn, có lời tựa của vua Tuyên Thông
lại không có chỗ nào ghi “Thiên lý Trường Sa”, “Vạn lý
Trường Sa” thuộc địa hạt Vạn Châu phủ Quỳnh Châu, tỉnh
Quảng Đông cả. Hẳn thế, nên họ né tránh đã lờ đi cả một
cuốn sách chính thông, vào loại tư liệu quôc gia ấy.
Họ còn cho rằng: Hoàng Sa của Việt Nam không phải là
“Tây Sa” của Trung Quốc, Trường Sa của Việt Nam không
phải là “Nam Sa” của Trung Quốc. Hai quần đảo của Việt
Nam ấy chỉ có thể là "... những đảo và bãi cát ven biển miền
Trung Việt Nam”. Song, như thế tức là họ vừa phải thừa
nhận có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam;
vừa nguy biện: cũng có quần đảo Tây Sa và Nam Sa của
Trung Quôc. Vậy: Tây S cl và Nam Sa là gì? ỡ nơi đâu?
Sự thực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ rất lâu,
12
NHIỀU TÁC GIẢ
khi Trung Quốc chưa biết hoặc chưa để ý tới thì chúng đã
thuộc lãnh thổ Việt Nam rồi. Chúng được in, chép trên nhiều
thư tịch cổ Việt Nam và vẽ trên nhiều bản đồ Việt Nam (rõ
nhất là ở các Châu bản Triều Nguyễn) và phương Tây (với
các tên Paracels và Spratley hoặc Spratly) mà họ nhận liều
là của Trung Quốc, rồi đặt cho chúng những tên “Tây Sa”,
“Nam Sa”. Sách “Phủ biên
tạpcủa Lê Qu
rất rõ đảo Đại Trường Sa ở phía ngoài cù lao Ré đi 3 ngày
đêm mới đến. Bản “Đại Nam
thống toàn
* cũng hằn
rõ nét vẽ “Hoàng Sa”, “Vạn lý Trường Sa” ở ngoài các đảo
ven biển Việt Nam như cù lao Ré, cù lao Chàm, cù lao Xanh,
cù lao Thu... chứ đâu có phải chỉ là “những đảo và bãi cát ven
biển
miền Trung Việt Nam”? Năm 1838, Giám mục Taberd
đã in tâm “An Nam Đại quốc họa đồ” trong cuốn Từ điển La
tinh
-Việt Nam. Trong bản đồ đó, bên ngoài các đảo chính ở
ven biển miền Trung Việt Nam như cù lao Chàm, cù lao Ré,
cù lao Xanh, cù lao Thu, Hòn Tre... đã ghi rất rõ “Paracel hay
cát vàng” (Paracel xen cát vàng). Còn nhiều bản đồ khác của
các nhà hàng hải phương Tây ở cắc thế kỷ XVI, XVII, XVIII
cũng vẽ Pracel hay Parcel đều ở khu vực các quần đảo Parcels
và Spratly ngày nay, ở bên ngoài các đảo ven biển miền
Trung Việt Nam. Những thư tịch, đồ bản đó là sự thực không
thể chối cãi. Năm 1959, 82 ngư dân nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa đi 3 chiếc thuyền đổ bộ trái phép lên 3 đảo của
Hoàng Sa (Paracels) là Quang Hòa, Hữu Nhật, Duy Mộng đã
bị Quân đội Việt Nam cộng hòa bắt giữ. Bộ Ngoại giao Trung
Quốc ngày 29/2/1959 đã ra tuyên bố “phản
nhà cầm
quyền Sài Gòn. Các ngư dân nước họ nói trong bản tuyên bô'
ấy rõ ràng bị bắt đâu phải ở những đảo ven biển miền Trung
mà chính là ở 3 đảo trong quần đảo Hoàng Sa của nước ta.
Ngày 19/1/1974 nhà cầm quyền Sài Gòn đã tố cáo các lực
HOẢNG SA, TRƯỜNG SA LÀ MÁU THỊT VIỆT NAM
13
lượng VÕ trang Trung Quốc đánh chiếm bất hợp pháp quần
đảo Hoàng Sa và Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bô" ngày
20/1/1974, đã biện hộ cho hành động xâm lược đó của họ.
Cuộc xung đột ấy với sự hy sinh anh dũng của 74 chiến binh
Việt Nam cộng hoà dã xảy ra trên quần đảo Hoàng Sa mà họ
gọi là Tây Sa, chứ đâu phải là ở trên các đảo ven biển Trung
Bộ Việt Nam? Sau sự thật lịch sử đó, cho đên nay, họ vẫn
ngang nhiên chiếm đóng Paracels, tức xâm lược Hoàng Sa, ở
phía đông các đảo ven biển nước ta.
Rõ ràng, Hoàng Sa và Trường Sa từ xưa đên nay chưa bao
giờ là của Trung Quốc. Đó chính là máu thịt của Việt Nam.
Hai quần đảo ấy nhất quyết không phải vì cái tên áp đặt
“TrungQuốc hóa” để trở thành lãnh thổ của họ và hòng lấp
liếm, hoặc bằng cách thay đổi vị trí địa lý theo sự dàn dựng
của nước lớn.
Cái mơ hồ nhất của phía Trung Quốc là từ trước đến nay
họ chưa bao giờ có được bằng chứng để nói một cách đàng
hoàng rằng: Nhà nước Trung Quôc đã từng bước thực hiện và
xác lập chủ quyền chính đáng của mình đôi với hai quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa.
Trong khi đó, chúng ta có đầy đủ chứng cứ lịch sử, pháp
lý để khẳng định rằng: “Nhà nước Việt Nam qua nhiều thời
đại đã liên tiếp thực hiện và tỏ rõ chủ quyền chính đáng của
mình đối với hai quần dảo ấy”.
Sau đây là những minh chứng:
Từ rất lâu Nhà nước Việt Nam qua các thời đại đã liên
tục chiếm hữu và thực hiện đầy đủ chủ quyền của mình đôi
với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đên thê ky XVII,
hai quần đảo ấy đã được xác định rất rõ trên bản đồ lãnh thổ
Việt Nam.
14
NHIỀU TÁC GIẢ
Với
tầm mắt
ViệtNam: Hàng loạt sách
cổ của Việt Nam đã ghi rõ: Hoàng Sa, Vạn lý Trường Sa,
hoặc Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa, Bãi Cát vàng từ lâu
đã là lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam. Trong
“Toàn tập Thiển Nam tứ
chílộ đồ thứ”, tập
do Đỗ Bá soạn vẽ vào th ế kỷ XVII ghi rõ ràng trong lời chú
giải bản đồ vùng phủ Quảng Nghĩa, xứ Quảng Nam như sau:
“Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”, "... họ
Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc
thuyền đến lấy hóa vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ,
súng đạn”. Trong “Giáp Ngọ bình Nam đồ”, bản đồ xứ Đàng
Trong do Đoan quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774, khi ông
làm Đổc suất Bình Nam Đại tướng quân theo lệnh Chúa
Trịnh Sâm đi đánh Đàng Trong thì Bãi Cát vàng cũng được
vẽ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam. “Phủ biên tạp
lục”,cuốn sách do nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) đích
thân soạn trong thời gian ông được triều Lê - Trịnh bổ nhiệm
vào trấn trị tại phía Nam đã ghi: đảo Đại Trường Sa (tức
Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Ngãi: “Xã An
Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa, ở ngoài cửa biển có
núi gọi là cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm, có phường Tứ Chính,
dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa
lại có đảo Đại Trường Sa. Trước kia có nhiều hải vật và hóa
vật của tàu biển, lập dội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm
mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải”. “Đại Nam nhất thống toàn
đồ”, bản đồ nước ta vẽ vào thời Minh Mạng (năm 1834) có
ghi “Hoàng Sa” - “Vạn Lý Trường Sa” thuộc lãnh thổ Việt
Nam. Cuốn “Đại Nam nhất thống
do Quốc sử quán nhà
Nguyễn soạn xong năm 1882 đã ghi rõ: Hoàng Sa là bộ phận
lãnh thổ Việt Nam thuộc tỉnh Quảng Nghĩa. Đoạn viết về
hình thể tỉnh này là: “Phía Đông có đảo cát - đảo Hoàng Sa -
h o à n g s a , t r ư ờ n g s a l à m á u t h ị t v iệ t n a m
lõ
liền với biển làm hào; phía Tây là miền sơn man, có lũy dài
vững vàng; phía Nam liền với tỉnh Bình Định, có đèo Bến Đá
chặn ngang; phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam có ghềnh Sa Thổ
làm giới hạn”.
Tầm mắt Việt Nam đó đã gặp
mắt phương Tây: nhiều
nhà hàng hải, giáo sỹ phương Tây mấy trăm năm trước đều
thừa nhận Hoàng Sa (Pracel hay Paracel) thuộc lãnh thổ Việt
Nam. Một vị giáo sỹ phương Tây vào năm 1701 di trên tầu
Amphitrite từ Pháp sang Trung Quốc đã viết thư trong đó có
dòng: “Paracel là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam”.
Năm 1820, cuối đời vua Gia Long, cố vấn của vua, ông J.B
Chaigneau đã ghi trong phần chú bổ sung vào cuốn Hồi ký về
nitóc
Cochinchine:“Nước Cochinchine mà nhà vua bấy giờ đã
lên ngôi hoàng đế gồm xứ Cochinchine và xứ Đông Kinh... một
vài đảo có dân cư không xa bờ biển và quần đảo Paracel do
những đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành...”.
Nanh từ Cochinchine (tiếng Pháp) hoặc Cochinchina (tiếng
Anh) trích dẫn ở đây là chỉ chung nước ta thời ấy hoặc chỉ xứ
Đàng Trong bấy giờ. Còn xứ Đông Kinh là Đàng Ngoài (Le Ton
Kin) khu vực các chúa Trịnh thống trị dưới danh nghĩa vua Lê.
Giám mục J.L.Taberd trong bài “ghi chép về địa lý nước
Cochinchine” xuất bảri năm 1837 đã tả lại: “Pracel hay
Paracels” là phần lãnh thổ nước Cochinchine và nói rõ người
Cochinchine gọi Pracel hay Paracels là “cát vàng” (Paracel/ xen
Cát Vàng) ở bên ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam,
thuộc khu vực quần đảo Hoàng Sa thời nay. Trong bài Địa lý
vương quốc
oclinhaủa Gutzlaft xuất bản năm 1849 có
C
đoạn chỉ rõ Paracels thuộc lãnh thổ Việt Nam và chú thích cả
tên theo cách gọi của người nước ta thuở ấy là “Kát Vàng”.
Còn tầm mắt Trung Quốc, trước thời kỳ của nhà cầm
quyền Trung Quốc hiện đại, chưa có một văn kiện nào hay
16
NHIỀU TÁC GIẢ
một tâm bản đồ nào của tổ tiên họ nói đến Hoàng Sa, Trường
Sa (hay Tây Sa, Nam Sa) là của Trung Quốc. Vào năm 1890,
tàu Himeji của Nhật Bản bị tai nạn chìm ở Hoàng Sa; vào
nặm 1895 tàu Bellona của Đức va vào đá ngầm cũng bị đắm
tại Hoàng Sa. Chủ của hai con tàu Nhật và Đức gặp nạn, bần
cùng họ đều đã đánh tín hiệu cho nhà chức trách ở Hải Nam
(vùng đảo nằm trong cương giới của nhà Thanh Trung Quốc
quản lý). Nhưng chính quyền ở Nam Hải đã làm ngơ, vì họ
cho rằng họ không có tránh nhiệm với nơi ở ngoài hải phận
của họ. Với hai vụ việc đó, Chính phủ nước Anh đã gửi công
hàm phản đôi, nhưng nhà Thanh (Trung Quốc) đã tuyên bố
chính thức rằng quần đảo này (Hoàng Sa) không thuộc về
Trung Quốc.
Trên cơ sở nhận thức ấy, với tư cách của người làm chủ,
trong mấy trăm năm, nhà nước phong kiến Việt Nam đã liên
tiếp tiến hành điều tra khảo sát địa hình, tài nguyên hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhiều tài liệu thư tịch Việt Nam
đã ghi lại sự thực ấy. Ở toàn tập “
Nam tứ
lộ đồ thứ”
đã nêu: “Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là bãi cát vàng, dài độ
400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển từ cửa Đại Chiêm
(nay là cửa Đại, thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng - tác giả bài
này chú) đến cửa Sa Vinh; mỗi lần có gió Tây Nam thì thương
thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt vào đây, có gió Đông
Bắc thì thương thuyền đi ở phía ngoài cũng trôi dạt vào đấy,
đều cùng chết đói hết cả, hàng hóa thì đều để lại ở nơi đó”.
Ở các bộ sách từ đời Lê đến đời Nguyễn cũng chỉ rõ sự
thật như: “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn ghi: “Xã An
Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa ở gần biển, ngoài
biển về phía Đông Bắc, có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn
130 hòn cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc
đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có nước
h o à n g s a , t r ư ờ n g s a l à m á u t h ị t v iệ t n a m
17
ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng
phẳng, rộng lớn, nước trong suốt tới đáy. Trên đảo có vô số
tô yên, các thứ chim có hàng ngàn hàng vạn, thấy người thì
đậu vòng quanh không tránh, trên bãi vật lạ rất nhiều, ốc
hoa thì có ốc tai voi, to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bẳng
đầu ngón tay, sắc dục không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo
làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà, có
xà cừ để
khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thế' muôi và
nấu ăn được”. “Đại
Nam thực lục
(do Quốc sử
nhà Nguyễn soạn) có ghi: “Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ
Quảng Nghĩa, ở ngoài biển, có hơn 130 bãi cát, cách nhau hoặc
một ngày đường hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy
ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa. Trên bãi có giếng nước
ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích...”. “Đại Nạm
nhấtthống
chí”
ghi: “Đảo Hoàng Sa phía Đông cù lao Ré huyện
Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ ra khơi thuận gió, ba bốn ngày
đêm có thể đến. Ở đó có đến hơn một trăm ba mươi đảo nhỏ,
cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh. Trong đảo
có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm tục
gọi là Vạn lý Trường Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển
tụ tập không biết cơ man nào. Sản xuất nhiều hải sâm, đồi mồi,
Ốc hoa vích... Hóa vật của các tàu thuyền bị nạn bão trôi giạt ở
đấy”. “Đại Nani thực lục
chính
bi(cũng do Quốc s
Nguyễn soạn) ghi về việc: Sau khi hoàn thành việc đo đạc, vẽ
bản đồ Hoàng Sa trở về, Đội trưởng giám thành Trương Phúc Sĩ
đã tâu với vua Minh Mạng rằng Hoàng Sa “là những bãi cát
giữa biển, man mác không bờ bên”.
Các tác phẩm lịch sử, địa lý nổi tiếng đời Nguyễn, như:
“Lịch
triều
hiến chương loại
cl“Ho
'Việt
sử cương giám khảo
lược”.đ. ều cũng tả
nét tương tự như thế.
18
NHIỀU TÁC GIẢ
Vì những lợi ích và những đặc điểm như thế, nên các nhà
nước phong kiến nước ta từ rất lâu đã tổ chức quản lý và khai
thác liên tục hai quần đảo ấy với tư cách chủ thể có đầy đủ
chủ quyền và quyền chủ quyền của một quốc gia ở đó. Ở
“Toản
tập Thiên Nam tứ
Nguyễn, mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc
thuyền đến (Bãi Cát Vàng) lấy hóa vật, được phần nhiều là
vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”.
chílộ đ
“Phủ biên tạp lục” cũng cho thấy: “Trước, họ Nguyễn đặt
đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt
phiên mỗi năm cứ tháng Ba nhận giây sai đi, mang lương
đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền tiểu câu (loại
thuyền của ngư dân nước ta dùng đánh cá ngoài khơi - tác
giả chú) ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến các đảo ấy rồi ỗ lại
đó. Tha hồ kiếm lượm, bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa
vật của tàu, như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ
dùng, thiếc khối, chì đen, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ
chiên cùng là kiếm, lượm mai đồi mồi, mai hải ba, hải sâm,
hột ốc hoa, rấ t nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về vào cửa Eo,
đến thành Phú Xuân để nộp. Cân và định hạng xong mới
cho đem bán riêng các thứ ốc hoa, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh
bằng trở về”; "... Họ Nguyễn đặt đội Bắc Hải không định bao
nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc
người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi,
miễn cho tiền SƯU cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền tiểu
câu ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà
Tiên, tìm lượm hóa vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba,
bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản”.
Sách
ĐạiNam thực lục
tiền biên làm rõ thêm
dựng nước, đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An
Vĩnh sung vào, hàng năm đến tháng 3 đi thuyền ra biển, độ
3 ngày đêm thì đến, thu lượm hóa vật đến tháng 8 trở về
h o à n g s a , t r ư ờ n g s a l à m á u t h ị t v iệ t n a m
19
nộp. Lại có đội Bắc Hải mộ dân ở phường Tứ Chính ở Bình
Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền
ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hóa vật. Đội này
cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”.
Thời Tây Sơn, có tờ sai đề vào năm 1786 của quan
Thượng tướng công ghi việc: “Sai Hội Đức hầu đội Hoàng Sa
dẫn 4 chiếc thuyền câu vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các
cù lao trên biển thu lượm đồ vàng bạc, đồ đồng và đại bác,
tiểu bác (loại pháo cỡ nhỏ - tác giả chú), đồi mồi, hải ba, cùng
cá quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ”.
Sau khi tiêu diệt nhà Tây Sơn, lên nắm quyền (năm
1802) đến khi mất chủ quyền vào tay Pháp sau hòa ước
Partner (1884) các vua nhà Nguyễn nối tiếp nhà Tây Sơn vẫn
ra sức giữ vững và hơn nữa còn mở rộng chủ quyền của nước
ta với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Sách “Đại Nam
thựclục
động của các vua nhà Nguyễn với hai quần đảo đó như sau:
Năm 1815, vua Gia Long “cử Phạm Quang Ảnh dẫn đội Hoàng
Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để khảo sát, đo đạc đường biển”.
Năm 1816, vua Gia Long “lệnh cho thủy quân cùng đội
Hoàng Sa ra Hoàng Sa tiếp tục làm những việc năm 1815”.
Năm 1833, vua Minh Mạng chỉ thị cho Bộ Công chuẩn bị
thuyền để năm sau sẽ phái tới Hoàng Sa dựng miếu, lập bia,
trồng nhiều cây côi.
Năm 1834, vua Minh Mạng cử Đội trưởng giám thành
Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân 20 người ra Hoàng Sa vẽ
bản đồ.
Năm 1835, vua Minh Mạng sai cai đội thủy quân Phạm
Văn Nguyên đem lính và thợ giám thành cùng phu thuyền
hai tỉnh Quảng Nghĩa, Bình Định chuyên chở vật liệu đến
Hoàng Sa dựng miếu. Bên trái miếu dựng bia đá, phía trước
miếu xây bình phong.
20
NHIỀU TÁC GIẦ
Năm 1836, chuẩn y lời tâu của Bộ Công, vua Minh Mạng
sai Suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền ra
Hoàng Sa đo đạc, vẽ bản đồ. Sách “
Nam thực lục chính
biên” ghi lại việc này cụ thể như: “K...
Sa,Trường Sa là máu
Việt Nam là một tập sách có ý nghĩa
dành cho bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ Việt
Nam, để các em hiểu thêm về 'nguồn cội,
biển, đảo của đất nước và có trách
nhiệm trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam ngàn đời yêu dấu”.
(Báo Nhân dân, số ra ngày 04-6-2014)
“ Cuốn sách được biên soạn công
phu, từ các bài viết của nhiều nhà
nghiên cứu thuộc các lĩnh vực: lịch sử,
khảo cứu, đồ bản, địa lý, văn hóa... tạo
thành một hệ thống tư liệu, thư tịch
phong phú, khoa học, chuẩn xác
nhằm khẳng định hai quần đảo Hoàng
Sa - Trường Sa từ lâu đã thuộc chủ
quyền của Việt Nam ” ... “Đây là cuốn
sách cần cho mọi người mọi nhà, cần
cho hôm nay và mai sau!” .
(Báo Quân đội nhân dân cuối tuần,
số ra ngày 15-12-2013)
NHIẾU TÁC GIẢ
HOÀNG SA, TRUỞNG SA
£à
má»
t&ịt
(Tai bản có sủa chũa, bổ sung)
Sách cho
Sách cho hôm nay mai sau.
mọingười,
NHÀ XUẤT IĨẢN THÔNG TIN VÀ TRUYỂN t h ô n g
nhà;
HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
Là máu thịt Việt Nam
CÁC TÁC GIẢ
TS. MAI HỒNG - PGS. TS. LÊ TRỌNG
(Đồng chủ biên)
Nhà
nghiêncứu LS. NGUYỄN ĐẮC XUÂN
Nhà văn HOÀNG Q u ố c HẢI
Nhà báo VĂN CUỜNG
Nhà báo HIỆP ĐỨC
Tiến
sĩ Sử họcĐINH CÔNG v ĩ
Nhà
nghiên
cứuLS. PHAN DUY KHA
Nhà báo TỪ KHÔI
Nhà báo TRẦN VÂN HẠC
Nhà văn MAI NGỌC v ò
Luật gia BÙI PHÚC HẢI
CHÂN DUNG HAI V| CHỦ BIÊN
TS. MAI HỔNG
PGS.TS. LÊ TRỌNG
- Sinh: Mậu Dần, 1938.
- Quê: Vũ Thư, Thái Bình.
- Nguyên Trưởng phòng TƯ liệu Hán
Nôm (Viện Hán - Nôm).
- Hiện nay: Giám đốc Trung tàm Nghiên
cứu & ứng dụng Phả học Việt Nam.
- Sinh: Bính Dần, 1926.
- Quê: Đảo Lý Sơn.
- Nguyên Viện trưởng Viện Phát triển
quốc tế học (I.I.D).
- Hiện nay: sống và viết tại Hà Nội.
Tiến sĩ Mai Hổng là người hơn 30
năm cất giữ “'Hoàng
trực tỉnh địa
dư toàn đồ" - tâm bản đồ cổ của Trung
Quốc, công bô" năm 1904, không hề có
hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
trong lãnh thổ nước họ.
PGS.TS. Lê Trọng là người con của đảo
Lý Sơn - tiền đồn canh giữ Hoàng Sa,
Trường Sa. Tuổi niên thiêu, hàng năm vào
ngày 20 tháng 2 âm lịch, ông thường đội
mâm xôi đến Nghĩa Tự cúng tế vong linh
những người lính đã hy sinh nơi biển cả
khi thi hành nhiệm vụ Vua sai ra đảo
Hoàng Sa, Trường Sa khai thác, quản giữ.
Ông đã có nhiều tác phẩm (khảo cứu,
báo, văn, thơ) viết về biển đảo quê hương.
LỜI GIỚI THIỆU
Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là những vùng đất
thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Dù cách xa đất liền
hàng trăm hải lý nhưng nơi đảo xa ấy luôn chiếm một vị trí
quan trọng trong trái tim mỗi người dân đất Việt. Trong ngàn
năm lịch sử, biết bao thế hệ cha anh đã chiến đấu quên
mình, hy sinh nơi biển cả để giữ vững chủ quyền biển, đảo.
Cuốn sách “Hoàng Sa, Trường Sa /à máu thịt Việt
Nam” do Tiến sĩ Mai Hồng và PGS. TS. Lê Trọng đồng chủ
biên (Nhà xuất bản Thông
tinvà Truyền thôn
Trung tâm Văn hoá Tràng An xuất bản - phát hành) là một
công trình được chuẩn bị hết sức công phu với hệ thống tư
liệu phong phú có giá trị khoa học, lịch sử và pháp lý cao.
Đặc biệt, việc sưu tầm và công bố hàng loạt những bản đồ
cùng các thư tịch cổ của Trung Quốc và tài liệu phương Tây
đã chứng minh những yêu cầu về chủ quyền của Trung
Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không
có căn cứ. Những tư liệu quý giá ấy là bằng chứng hùng hồn
để khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với
Hoàng Sa và Trường Sa.
Cuốn sách này đã thêm một lần nữa ghi lại những khúc
tráng ca về đội hung binh giữ đảo từ dời này qua đời khác, về
cuộc sống sinh động của những con người nơi đầu ngọn sóng
hôm nay. Họ là những con người đang viết tiếp bài ca giữ
nước của ông cha ta để Hoàng Sa, Trường Sa mãi mãi là máu
của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam.
Hà Nội, ngày 12 tháng 8 năm 2013
GS. Vũ Khiêu
VINH QUANG THAY HẢI QUÂN VIỆT NAM!
5
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA LÀ MÁU THỊT
VIỆT NAM MÃI MÃI KHÔNG THỂ CAT r ờ i
TS. Đinh Công Vĩ
Nhà cầm quyền hiện đại Trung Hoa(1) vài chục năm trở lại
đây đã ngày càng lộ rõ tham vọng đối với hai quần đảo Hoàng
Sa (quốc tế gọi là Paracels) và Trường Sa (quốc tế gọi là
Spratley hoặc Spratly) vốn là máu thịt của Việt Nam mà họ đã
“Trung Quốc hóa” dưới các cái tên áp đặt “Tây Sa” và “Nam Sa”.
Thực ra, hai cái tên địa danh đó chỉ mới xuất hiện trên
sách vở của Trung Hoa sớm nhất là vào năm 1947 trở đi. Lục
ấy, lợi dụng nước ta đang dồn toàn bộ sức lực cho cuộc kháng
chiến trường kỳ chông thực dân Pháp, họ đã nêu ra chuyện
phi lý đó. Mãi tới ngày 30/01/1980, sau cuộc xâm lược phi
nghĩa ở biên giới phía Bắc nước ta, nhà cầm quyền hiện đại
Bắc Kinh mới lần đầu tiên buộc phải cố đưa ra văn kiện
chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc về cái gọi là chủ
quyền của họ với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt
Nam. Trung Quốc làm thế để chuẩn bị cho sự kiện tiếp theo
là vào tháng 3/1988, họ đã bất ngờ đánh chiếm trái phép đảo
đá Gạc Ma và một số đảo khác do Quân đội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang canh giữ.
Họ dẫn ra một số sách
“phát hiện sớm nhất, khai
“hàng ngàn năm nay, Chính
đã liên tục thực hiện quyền
dân Trung Quốc là người chủ
cổ để nói rằng: Trung Quốc dã
phá kinh doanh sớm nhất” và
phủ và các triều đại Trung Quốc
cai quản hai quần đảo đó, nhân
không thế' tranh cãi được của hai*
,l) Chúng tôi dùng thuật ngữ: “Nhà cầm quyền hiện đại Trung Hoa” đế'
phân biệt với các nhà cầm quyền Trung Hoa trong quá khứ là tổ tiên của họ
cho rằng biên giới tận cùng của Trung Hoa ở phía Nam chỉ đến đảo Hổi
Nam, không tranh chấp đất ngoài cương giới là Hoàng Sa, Trường Sa.
6
NHIỀU TÁC GIẢ
quần đảo đó”. Bất chấp sự thực, họ xuyên tạc rằng: Hoàng Sa
và Trường Sa của Việt Nam chỉ là những đảo nhỏ và bãi cát
ven biển miền Trung của Việt Nam để góp phần minh chứng
cho luận thuyết sai trái là: Hai quần đảo ấy không phải là
“Tây Sa” và “Nam Sa” của Trung Hoa.
Vậy sự th ậ t là th ế nào về cái thuyết vu vơ: “Phát hiện
sớm nhất, khai phá kinh doanh sớm nhất” của họ?
Văn kiện của Bộ Ngoại giao Trung Quôc công bô" ngày
30/1/1980 đã viện dẫn, cắt xén hai cuốn sách Nam châu di
vật
chívà Phù Nam truyện đời Tam quốc (220-265) để chứng
minh là: Từ lâu người Trung Hoa đã “phát hiện” Tây Sa và
Nam Sa. Văn kiện ấy còn nêu lên 6 cuốn sách: Mộng Lương
lục, Đảo di chí lược, Đông Tây dương khảo, Thuận phong
tương tống, Chỉ nam chính pháp, Hải quốc văn
lục từ
đời Tông đến đời Thanh (Thế kỷ XI đến thế kỷ XIX) để mập
mờ nói rằng những cuốn sách đó đã “ghi chép tình hình nhân
dân Trung Quốc hàng ngàn năm nay đã đến quần đảo Tây
Sa, Nam Sa để làm hàng hải và sản xuất”, lần lượt đặt tên
cho quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là “Cửu
loa
châu”,
“ThạchĐường”,
“Thiên Thạch Đường”,
Thạch Đường”, “Trường Sa”,
“ TTrường Sa”
Trường
S a”...hòng đi tới luận điệu: nhân dân nước họ đã
phát hiện, khai phá “Tây Sa” và “Nam
Nhưng đọc kỹ mới thấy rằng: Những đoạn trích dẫn
trong hai cuôn sách đời Tam quốc của họ là những đoạn cắt
xén mơ hồ. Còn sáu cuôn sách sau chủ yếu vẫn chỉ là chép
nhặt những hiểu biết của người Trung Quốc đương đại về lịch
sử, địa lý, phong tục... của các nước thuộc khu vực Đông Nam
Á và Nam Á, và đường hàng hải từ nước họ ra nước ngoài mà
không hề có bất kỳ sự ghi lại nào về việc dân Trung Quốc
đến hai quần đảo này
“làmhàng hải và sản
Nhữ
h o à n g s a , t r ư ò n g s a l à m á u t h ị t v iệ t n a m
7
tên cổ mà họ cho là các sách đã “đặt” cho hai quần đảo cũng
chỉ là những cái tên mà người Trung Quốc thời xưa dùng dể
tả lại đường hàng hải Biển Đông hoặc về địa lý nước ngoài.
Những địa danh ấy không phải là của Trung Quốc và hoàn
toàn không có một giá trị pháp lý nào để họ dựa vào đó mà
khẳng, định liều rằng những đảo đó của người Trung Quôc.
Kế' cả sự “phát hiện” của người nước họ dù có th ật thì cũng
chẳng có cơ sở pháp lý để chứng minh rằng vào các thời ấy
hai quần đảo mà họ gọi là “Tây Sa”, “Nam Sa” thuộc chủ
quyền Trung Quốc. Và nếu có sự
phá
* của
người Trung Quốc ở “Tây Sa”, “Nam Sa” thì đó cũng chỉ là
sự khai phá, kinh doanh của tư nhân Trung Quốc ra nước
ngoài, chứ không phải là chủ trương của Nhà nước. Vậy cái
gọi là chủ quyền của nước họ về hai quần đảo ây mới mơ hồ
làm sao?
Còn các thuyết vu vơ nữa về sự
của các triều
đại Trung Quốc thì thế nào? Điều cơ bản nhất, cần thiết nhất
không thể khồng có sự đòi hỏi của dư luận là: các nhà nước
Trung Quổc đã chiếm hữu hai quần đảo ấy từ lúc nào và như
thế nào? Trung Quốc đã bất lực, không thể giải đáp được câu
hỏi hóc búa ấy. Vậy buộc họ phải nói chung chung rằng
“Chính phủ các triều-đại Trung Quốc đã liên tục thực hiện
quyền cai quản hai quần đảo đó”. Để chứng minh cho luận
điệu chung chung đó, họ không thể không nêu ra một sô' sự
kiện từ thế kỷ XI đến XIX, nhấn mạnh hơn là 3 sự kiện sau
đây mà họ trích dẫn, cắt xén ở sách cổ:
- Sách “Vũ
kinh tổng
yếu”v iết đời Tông N
(1023-1063) nêu: Triều đình Bắc Tông “lệnh cho quân nhà
vua đi trấn giữ, đặt dinh lũy thủy quân tuần biển” ở Quảng
Nam (tức Quảng Đồng thời nay) “đóng tàu chiến đao ngư” “từ
đồn Mân Sơn, theo gió đông đi về hướng tây nam 7 ngày thì
8
NHIỀU TÁC GIẢ
đên cửu Nhũ Loa Châu”. Họ nói rằng “
Nhũ Loa
là
“quần đảo Tây Sa” nên cái kết luận: “triều đình Bắc Tông
đặt quần đảo Tây Sa vào phạm vi cai quản của mình”, “hải
quân Trung Quốc đã tuần tra đến vùng quần đảo Tây Sa”
cũng chỉ là kết luận không có căn cứ xác đáng. Có nêu lên
nguyên văn toàn bộ “Vũ
kinh tổng yếu” mớ
mẹo trích dẫn và thêm th ắt của họ: “Lệnh cho quân nhà vua
đi trấn giữ, đặt dinh lũy thủy quân tuần biển ở hai cửa biển
phía Đông và phía Tây rộng 280 trượng đến đồn Môn Sơn
200 lý đóng tàu chiến đao ngư. Từ đồn Môn Sơn theo gió
đông đi về hướng Tây Nam 7 ngày thì đến Cửu Nhũ Loa
Châu, đi 3 ngày nữa đến Bất Lạo Sơn (thuộc địa giới nước
Hoàn Châu, đi 300 hải lý nữa về phía Nam đến Lăng Sơn
Đông. Phía Tây Nam nơi đó là các nước Đại Thực Phật, Sư
Tử,
Thiên
Trúc,không thể tính được hành trình”. Phải giải
thích mới rõ: đồn Môn Sơn có vị trí ở cửa sông Châu Giang
(thuộc tỉnh Quảng Đông); Bất Lạo Sơn chính là Cù Lao Chàm
ở nước Hoàn Châu (tức Chiêm Thành); Đại Thực Phật được
các sách cổ Trung Quôc từng viết là nước Đại Thực, một nước
phong kiến thời Trung cổ ở vịnh Ba Tư đời nay. Sư Tử là
nước Srilanka, Thiên Trúc là nước Ấn Độ. Các sách Đường
Thư, Tống sử, Cổ
kim đồ thư tập thành của chính nước
khẳng định sự thực ấy. Vậy, không thể biện bạch được là: Sự
kiện trên chỉ nói việc vua Bắc Tông ra lệnh “đặt dinh lũy
thủy quân tuần biển” ở cửa biển Quảng Châu, có đoạn tả lại
vị trí địa lý nơi đặt dinh lũy thủy quân, có đoạn tả lại đường
biển từ cửa biển Quảng Châu sang Ấn Độ Dương, tìm đâu
thấy được đoạn văn nói rằng, thủy quân Trung Quôc đi tuần
tra đến quần đảo “Tây Sa”? Còn về tên các sách trên, họ
cũng dịch sao cho có lợi cho mình khi bịa đặt, như sách 'Đảo
di
chílược” nghĩa là: Xem xét khái lược về các nước man di
(tức là nước ngoài theo cách gọi khinh miệt của họ) trên đảo,
HOẢNG SA, TRƯỜNG SA LÀ MÁU THỊT VIỆT NAM
thì họ dịch
“H ả i q u
mắt thấy về
mắt thấy về
9
là “Xem xét, khái quát về các đảo”; hoặc sách
ố c vãn
kiến lục” đúng nghĩa là “Những điều t
nước ngoài”, thì họ dịch là: “Những điều tai nghe
những vùng ven biển”.
- Sách “Nguyên
sử”,bộ sử chính thức của triề
Nguyên từng ghi: “Việc đo bóng mặt trời bôn biển ở hai
mươi bảy nơi. Phía đông đến Cao Ly, phía tây đến Điền Trì,
phía nam qua Chu Nhai, phía bắc đến Thiết Lặc. Theo đầu
đề
“Đođạc 4
biển”.“Nguyên
*n
sử
đo đạc trong đó có Cao Ly, Thiết Lặc, Bắc Hải, Nam Hải.
Phải biết rằng Cao Ly tức Triều Tiên, Thiêt Lặc thuộc Xibia
của nước Nga, Bắc Hải nay là vùng biển phía bắc Xibia,
Nam Hải là Biển Đông nói chung (phần biền Nam Thái
Bình Dương). Những vùng ây nằm trong “bôn biển” chứ
không nằm ở
“toànquốc” của nước họ. Ngay trong “Nguyên
sử”,phần Địa lý
chívà
Lịchđại
cũng nêu rõ “Cương vực” Trung Quôc đời Nguyên, phía nam
chỉ đến đảo Hải Nam, phía bắc không quá sa mạc Gôbi.
Vậy, làm sao có chuyện quần đảo với tên gọi là “Tây Sa” lúc
ấy đã nằm trong cương vực Trung Quốc đời Nguyên?
Phải nói rõ thêm rằng: Tống, Nguyên - hai triều đại gắn
với nội dung những cùổn sách trên là những triều đại đã thất
bại thảm hại về quân sự tại Việt Nam, đặc biệt là thất bại về
mặt thuỷ quân trên sông Bạch Đằng (“Đằng giang tự cổ
huyết do
hồng...”)thì làm sao mà vươn tới biển được? Đại
thần Triều Bổ Chí dâng sớ trần tình với Tông Thần Tông và
Tể tướng Vương An Thạch rằng: “Quân Tông nhát sóng hơi
có gió đã sợ rồi... còn người Giao Chỉ giỏi thuỷ chiến làm sao
địch nổi?”. Các vua Tông, từ Bắc Tống đến Nam Tống yếu
hèn, liên tục bị các nước Liêu, Kim, Hạ bắt nạt. Các vua
Tông Huy Tông, Tông Khâm Tông bị cầm tù chêt nhục ỏ'
10
NHIỀU TÁC GIẢ
nước Kim. Vậy mà họ vẫn quỳ gối xưng thần với phương Bắc,
một mặt đàn áp các anh hùng chủ chiến bảo vệ cương giới
như Nhạc Phi... Con đường xuống dốc không phanh ấy góp
phần làm cho nưó[c Trung Hoa từng vỗ ngực tự hào phải nằm
bẹp dưới chân ngựa của người Mông cổ hàng th ế kỷ. Đại
thần nhà Tông là Lục Tú Phu phải cõng vua Tống là Đế Bính
nhảy xuống biển tự tử. Thái hậu nhà Tống cũng chết chìm
trên Biển Đông cùng hàng vạn người Trung Hoa khác. Vậy
nước họ thời ấy làm sao có thể chiếm lĩnh được Biển Đông?!
Đến các đời sau đó: Họ còn dẫn sự kiện viên phó tướng
thủy quân Ngô Thăng đi tuần tiễu biển vào khoảng năm 1710
đến năm 1712 đời Thanh "... từ Quỳnh Nhai qua Đồng cổ, qua
Thất Châu Dương, Tứ Canh Sa, vòng quanh ba ngàn dặm,
đích thân đi tuần tra xem xét” để nói là: “Thất Châu Dương
là vùng biển quần đảo Tây Sa ngày nay, lúc đó do hải quân
tỉnh Quảng Đông phụ trách tuần tiễu”. Nhưng họ làm sao
chối cãi được sự th ật là: Theo các sách của chính nước họ,
như “Trung
văn đại từ điển” (Đài Loan xuất bản năm 1963
ghi rõ: Quỳnh Nhai tức “Đạo binh bị Quỳnh Nhai” (đảo Hải
Nam) đời Thanh, lỵ sở
ởQuỳnh Sơn, gần thị trấ
ngày nay, phía bắc đảo Hải Nam; “Trung Quôc tân dư đồ”
(Thương vụ ấn thư quán Thượng Hải xuất bản năm 1917) cho
thấy: Đồng cổ ở mỏm đông bắc đảo Hải Nam... Tứ Canh Sa là
bãi cát ở phía tây đảo Hải Nam;
đồ Trung Quốc” tỷ lệ
1/500.000 do Trung Quốc in vào tháng 5 năm 1965, bằng chữ
Trung Quốc và Việt Nam, mảnh “bán đảo Lôi Châu và đảo
Hải Nam” cũng cho thấy: Thất Châu Dương là vùng biển có 7
hòn đảo gọi là Thất Châu, nằm ở phía đông đảo Hải Nam.
Như vậy, họ đang phản bác lại những điều mà chính miệng
họ đã nói, chính tay họ đã viêt vẽ ra; và xổ toẹt vào cái luận
điệu: “Thất Châu Dương là vùng biển quần đảo Tây Sa ngày
HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ MÁU THỊT VIỆT NAM
11
nay...”. Tác phẩm “Hoàng
triềutrực
nhà Thanh, công bô' 1904, mà mới đây Tiến sỹ Mai Hồng đã
hiến tặng cho Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam sau nhiều
năm cất giữ cho thấy: Địa danh cực nam của Trung Quốc là
đảo Hải Nam. Nhiều tấm bản đồ khác của chính Trung Quốc
vào các đời Tông, Nguyên, Minh, Thanh đến Trung Hoa Dân
quô'c ti'0ng khoảng 30 năm đầu thế kỷ XX đều thông nhất với
cương giới ấy. Vậy Thất Châu Dương ỗ phía đông đảo Hải
Nam làm sao có cánh mà bay ra ngoài, để thành vùng biển
quần đảo Tây Sa ngày nay?
địa dư toàn
Họ còn cho rằng vài cuốn địa phương chí các đời Minh,
Thanh như “Quảng Đông thông
“Quỳnh Châu phủ
“Vạn Châu
chí”có nêu: “Vạn Châu có Thiên lý Trường Sa,
Vạn Lý Thạch Đường” để minh chứng “lúc ấy quần đảo Tây
Sa và Nam Sa là thuộc Vạn Châu, phủ Quỳnh Châu, tỉnh
Quảng Đông”. Song, trong bộ sách địa lý chính thức được
nhiều người biết là “Đại Thanh nhât thông
do Quôc sử
quán nhà Thanh biên soạn, có lời tựa của vua Tuyên Thông
lại không có chỗ nào ghi “Thiên lý Trường Sa”, “Vạn lý
Trường Sa” thuộc địa hạt Vạn Châu phủ Quỳnh Châu, tỉnh
Quảng Đông cả. Hẳn thế, nên họ né tránh đã lờ đi cả một
cuốn sách chính thông, vào loại tư liệu quôc gia ấy.
Họ còn cho rằng: Hoàng Sa của Việt Nam không phải là
“Tây Sa” của Trung Quốc, Trường Sa của Việt Nam không
phải là “Nam Sa” của Trung Quốc. Hai quần đảo của Việt
Nam ấy chỉ có thể là "... những đảo và bãi cát ven biển miền
Trung Việt Nam”. Song, như thế tức là họ vừa phải thừa
nhận có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam;
vừa nguy biện: cũng có quần đảo Tây Sa và Nam Sa của
Trung Quôc. Vậy: Tây S cl và Nam Sa là gì? ỡ nơi đâu?
Sự thực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ rất lâu,
12
NHIỀU TÁC GIẢ
khi Trung Quốc chưa biết hoặc chưa để ý tới thì chúng đã
thuộc lãnh thổ Việt Nam rồi. Chúng được in, chép trên nhiều
thư tịch cổ Việt Nam và vẽ trên nhiều bản đồ Việt Nam (rõ
nhất là ở các Châu bản Triều Nguyễn) và phương Tây (với
các tên Paracels và Spratley hoặc Spratly) mà họ nhận liều
là của Trung Quốc, rồi đặt cho chúng những tên “Tây Sa”,
“Nam Sa”. Sách “Phủ biên
tạpcủa Lê Qu
rất rõ đảo Đại Trường Sa ở phía ngoài cù lao Ré đi 3 ngày
đêm mới đến. Bản “Đại Nam
thống toàn
* cũng hằn
rõ nét vẽ “Hoàng Sa”, “Vạn lý Trường Sa” ở ngoài các đảo
ven biển Việt Nam như cù lao Ré, cù lao Chàm, cù lao Xanh,
cù lao Thu... chứ đâu có phải chỉ là “những đảo và bãi cát ven
biển
miền Trung Việt Nam”? Năm 1838, Giám mục Taberd
đã in tâm “An Nam Đại quốc họa đồ” trong cuốn Từ điển La
tinh
-Việt Nam. Trong bản đồ đó, bên ngoài các đảo chính ở
ven biển miền Trung Việt Nam như cù lao Chàm, cù lao Ré,
cù lao Xanh, cù lao Thu, Hòn Tre... đã ghi rất rõ “Paracel hay
cát vàng” (Paracel xen cát vàng). Còn nhiều bản đồ khác của
các nhà hàng hải phương Tây ở cắc thế kỷ XVI, XVII, XVIII
cũng vẽ Pracel hay Parcel đều ở khu vực các quần đảo Parcels
và Spratly ngày nay, ở bên ngoài các đảo ven biển miền
Trung Việt Nam. Những thư tịch, đồ bản đó là sự thực không
thể chối cãi. Năm 1959, 82 ngư dân nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa đi 3 chiếc thuyền đổ bộ trái phép lên 3 đảo của
Hoàng Sa (Paracels) là Quang Hòa, Hữu Nhật, Duy Mộng đã
bị Quân đội Việt Nam cộng hòa bắt giữ. Bộ Ngoại giao Trung
Quốc ngày 29/2/1959 đã ra tuyên bố “phản
nhà cầm
quyền Sài Gòn. Các ngư dân nước họ nói trong bản tuyên bô'
ấy rõ ràng bị bắt đâu phải ở những đảo ven biển miền Trung
mà chính là ở 3 đảo trong quần đảo Hoàng Sa của nước ta.
Ngày 19/1/1974 nhà cầm quyền Sài Gòn đã tố cáo các lực
HOẢNG SA, TRƯỜNG SA LÀ MÁU THỊT VIỆT NAM
13
lượng VÕ trang Trung Quốc đánh chiếm bất hợp pháp quần
đảo Hoàng Sa và Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bô" ngày
20/1/1974, đã biện hộ cho hành động xâm lược đó của họ.
Cuộc xung đột ấy với sự hy sinh anh dũng của 74 chiến binh
Việt Nam cộng hoà dã xảy ra trên quần đảo Hoàng Sa mà họ
gọi là Tây Sa, chứ đâu phải là ở trên các đảo ven biển Trung
Bộ Việt Nam? Sau sự thật lịch sử đó, cho đên nay, họ vẫn
ngang nhiên chiếm đóng Paracels, tức xâm lược Hoàng Sa, ở
phía đông các đảo ven biển nước ta.
Rõ ràng, Hoàng Sa và Trường Sa từ xưa đên nay chưa bao
giờ là của Trung Quốc. Đó chính là máu thịt của Việt Nam.
Hai quần đảo ấy nhất quyết không phải vì cái tên áp đặt
“TrungQuốc hóa” để trở thành lãnh thổ của họ và hòng lấp
liếm, hoặc bằng cách thay đổi vị trí địa lý theo sự dàn dựng
của nước lớn.
Cái mơ hồ nhất của phía Trung Quốc là từ trước đến nay
họ chưa bao giờ có được bằng chứng để nói một cách đàng
hoàng rằng: Nhà nước Trung Quôc đã từng bước thực hiện và
xác lập chủ quyền chính đáng của mình đôi với hai quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa.
Trong khi đó, chúng ta có đầy đủ chứng cứ lịch sử, pháp
lý để khẳng định rằng: “Nhà nước Việt Nam qua nhiều thời
đại đã liên tiếp thực hiện và tỏ rõ chủ quyền chính đáng của
mình đối với hai quần dảo ấy”.
Sau đây là những minh chứng:
Từ rất lâu Nhà nước Việt Nam qua các thời đại đã liên
tục chiếm hữu và thực hiện đầy đủ chủ quyền của mình đôi
với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đên thê ky XVII,
hai quần đảo ấy đã được xác định rất rõ trên bản đồ lãnh thổ
Việt Nam.
14
NHIỀU TÁC GIẢ
Với
tầm mắt
ViệtNam: Hàng loạt sách
cổ của Việt Nam đã ghi rõ: Hoàng Sa, Vạn lý Trường Sa,
hoặc Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa, Bãi Cát vàng từ lâu
đã là lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam. Trong
“Toàn tập Thiển Nam tứ
chílộ đồ thứ”, tập
do Đỗ Bá soạn vẽ vào th ế kỷ XVII ghi rõ ràng trong lời chú
giải bản đồ vùng phủ Quảng Nghĩa, xứ Quảng Nam như sau:
“Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”, "... họ
Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc
thuyền đến lấy hóa vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ,
súng đạn”. Trong “Giáp Ngọ bình Nam đồ”, bản đồ xứ Đàng
Trong do Đoan quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774, khi ông
làm Đổc suất Bình Nam Đại tướng quân theo lệnh Chúa
Trịnh Sâm đi đánh Đàng Trong thì Bãi Cát vàng cũng được
vẽ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam. “Phủ biên tạp
lục”,cuốn sách do nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) đích
thân soạn trong thời gian ông được triều Lê - Trịnh bổ nhiệm
vào trấn trị tại phía Nam đã ghi: đảo Đại Trường Sa (tức
Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Ngãi: “Xã An
Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa, ở ngoài cửa biển có
núi gọi là cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm, có phường Tứ Chính,
dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa
lại có đảo Đại Trường Sa. Trước kia có nhiều hải vật và hóa
vật của tàu biển, lập dội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm
mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải”. “Đại Nam nhất thống toàn
đồ”, bản đồ nước ta vẽ vào thời Minh Mạng (năm 1834) có
ghi “Hoàng Sa” - “Vạn Lý Trường Sa” thuộc lãnh thổ Việt
Nam. Cuốn “Đại Nam nhất thống
do Quốc sử quán nhà
Nguyễn soạn xong năm 1882 đã ghi rõ: Hoàng Sa là bộ phận
lãnh thổ Việt Nam thuộc tỉnh Quảng Nghĩa. Đoạn viết về
hình thể tỉnh này là: “Phía Đông có đảo cát - đảo Hoàng Sa -
h o à n g s a , t r ư ờ n g s a l à m á u t h ị t v iệ t n a m
lõ
liền với biển làm hào; phía Tây là miền sơn man, có lũy dài
vững vàng; phía Nam liền với tỉnh Bình Định, có đèo Bến Đá
chặn ngang; phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam có ghềnh Sa Thổ
làm giới hạn”.
Tầm mắt Việt Nam đó đã gặp
mắt phương Tây: nhiều
nhà hàng hải, giáo sỹ phương Tây mấy trăm năm trước đều
thừa nhận Hoàng Sa (Pracel hay Paracel) thuộc lãnh thổ Việt
Nam. Một vị giáo sỹ phương Tây vào năm 1701 di trên tầu
Amphitrite từ Pháp sang Trung Quốc đã viết thư trong đó có
dòng: “Paracel là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam”.
Năm 1820, cuối đời vua Gia Long, cố vấn của vua, ông J.B
Chaigneau đã ghi trong phần chú bổ sung vào cuốn Hồi ký về
nitóc
Cochinchine:“Nước Cochinchine mà nhà vua bấy giờ đã
lên ngôi hoàng đế gồm xứ Cochinchine và xứ Đông Kinh... một
vài đảo có dân cư không xa bờ biển và quần đảo Paracel do
những đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành...”.
Nanh từ Cochinchine (tiếng Pháp) hoặc Cochinchina (tiếng
Anh) trích dẫn ở đây là chỉ chung nước ta thời ấy hoặc chỉ xứ
Đàng Trong bấy giờ. Còn xứ Đông Kinh là Đàng Ngoài (Le Ton
Kin) khu vực các chúa Trịnh thống trị dưới danh nghĩa vua Lê.
Giám mục J.L.Taberd trong bài “ghi chép về địa lý nước
Cochinchine” xuất bảri năm 1837 đã tả lại: “Pracel hay
Paracels” là phần lãnh thổ nước Cochinchine và nói rõ người
Cochinchine gọi Pracel hay Paracels là “cát vàng” (Paracel/ xen
Cát Vàng) ở bên ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam,
thuộc khu vực quần đảo Hoàng Sa thời nay. Trong bài Địa lý
vương quốc
oclinhaủa Gutzlaft xuất bản năm 1849 có
C
đoạn chỉ rõ Paracels thuộc lãnh thổ Việt Nam và chú thích cả
tên theo cách gọi của người nước ta thuở ấy là “Kát Vàng”.
Còn tầm mắt Trung Quốc, trước thời kỳ của nhà cầm
quyền Trung Quốc hiện đại, chưa có một văn kiện nào hay
16
NHIỀU TÁC GIẢ
một tâm bản đồ nào của tổ tiên họ nói đến Hoàng Sa, Trường
Sa (hay Tây Sa, Nam Sa) là của Trung Quốc. Vào năm 1890,
tàu Himeji của Nhật Bản bị tai nạn chìm ở Hoàng Sa; vào
nặm 1895 tàu Bellona của Đức va vào đá ngầm cũng bị đắm
tại Hoàng Sa. Chủ của hai con tàu Nhật và Đức gặp nạn, bần
cùng họ đều đã đánh tín hiệu cho nhà chức trách ở Hải Nam
(vùng đảo nằm trong cương giới của nhà Thanh Trung Quốc
quản lý). Nhưng chính quyền ở Nam Hải đã làm ngơ, vì họ
cho rằng họ không có tránh nhiệm với nơi ở ngoài hải phận
của họ. Với hai vụ việc đó, Chính phủ nước Anh đã gửi công
hàm phản đôi, nhưng nhà Thanh (Trung Quốc) đã tuyên bố
chính thức rằng quần đảo này (Hoàng Sa) không thuộc về
Trung Quốc.
Trên cơ sở nhận thức ấy, với tư cách của người làm chủ,
trong mấy trăm năm, nhà nước phong kiến Việt Nam đã liên
tiếp tiến hành điều tra khảo sát địa hình, tài nguyên hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhiều tài liệu thư tịch Việt Nam
đã ghi lại sự thực ấy. Ở toàn tập “
Nam tứ
lộ đồ thứ”
đã nêu: “Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là bãi cát vàng, dài độ
400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển từ cửa Đại Chiêm
(nay là cửa Đại, thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng - tác giả bài
này chú) đến cửa Sa Vinh; mỗi lần có gió Tây Nam thì thương
thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt vào đây, có gió Đông
Bắc thì thương thuyền đi ở phía ngoài cũng trôi dạt vào đấy,
đều cùng chết đói hết cả, hàng hóa thì đều để lại ở nơi đó”.
Ở các bộ sách từ đời Lê đến đời Nguyễn cũng chỉ rõ sự
thật như: “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn ghi: “Xã An
Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa ở gần biển, ngoài
biển về phía Đông Bắc, có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn
130 hòn cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc
đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có nước
h o à n g s a , t r ư ờ n g s a l à m á u t h ị t v iệ t n a m
17
ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng
phẳng, rộng lớn, nước trong suốt tới đáy. Trên đảo có vô số
tô yên, các thứ chim có hàng ngàn hàng vạn, thấy người thì
đậu vòng quanh không tránh, trên bãi vật lạ rất nhiều, ốc
hoa thì có ốc tai voi, to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bẳng
đầu ngón tay, sắc dục không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo
làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà, có
xà cừ để
khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thế' muôi và
nấu ăn được”. “Đại
Nam thực lục
(do Quốc sử
nhà Nguyễn soạn) có ghi: “Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ
Quảng Nghĩa, ở ngoài biển, có hơn 130 bãi cát, cách nhau hoặc
một ngày đường hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy
ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa. Trên bãi có giếng nước
ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích...”. “Đại Nạm
nhấtthống
chí”
ghi: “Đảo Hoàng Sa phía Đông cù lao Ré huyện
Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ ra khơi thuận gió, ba bốn ngày
đêm có thể đến. Ở đó có đến hơn một trăm ba mươi đảo nhỏ,
cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh. Trong đảo
có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm tục
gọi là Vạn lý Trường Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển
tụ tập không biết cơ man nào. Sản xuất nhiều hải sâm, đồi mồi,
Ốc hoa vích... Hóa vật của các tàu thuyền bị nạn bão trôi giạt ở
đấy”. “Đại Nani thực lục
chính
bi(cũng do Quốc s
Nguyễn soạn) ghi về việc: Sau khi hoàn thành việc đo đạc, vẽ
bản đồ Hoàng Sa trở về, Đội trưởng giám thành Trương Phúc Sĩ
đã tâu với vua Minh Mạng rằng Hoàng Sa “là những bãi cát
giữa biển, man mác không bờ bên”.
Các tác phẩm lịch sử, địa lý nổi tiếng đời Nguyễn, như:
“Lịch
triều
hiến chương loại
cl“Ho
'Việt
sử cương giám khảo
lược”.đ. ều cũng tả
nét tương tự như thế.
18
NHIỀU TÁC GIẢ
Vì những lợi ích và những đặc điểm như thế, nên các nhà
nước phong kiến nước ta từ rất lâu đã tổ chức quản lý và khai
thác liên tục hai quần đảo ấy với tư cách chủ thể có đầy đủ
chủ quyền và quyền chủ quyền của một quốc gia ở đó. Ở
“Toản
tập Thiên Nam tứ
Nguyễn, mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc
thuyền đến (Bãi Cát Vàng) lấy hóa vật, được phần nhiều là
vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”.
chílộ đ
“Phủ biên tạp lục” cũng cho thấy: “Trước, họ Nguyễn đặt
đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt
phiên mỗi năm cứ tháng Ba nhận giây sai đi, mang lương
đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền tiểu câu (loại
thuyền của ngư dân nước ta dùng đánh cá ngoài khơi - tác
giả chú) ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến các đảo ấy rồi ỗ lại
đó. Tha hồ kiếm lượm, bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa
vật của tàu, như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ
dùng, thiếc khối, chì đen, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ
chiên cùng là kiếm, lượm mai đồi mồi, mai hải ba, hải sâm,
hột ốc hoa, rấ t nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về vào cửa Eo,
đến thành Phú Xuân để nộp. Cân và định hạng xong mới
cho đem bán riêng các thứ ốc hoa, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh
bằng trở về”; "... Họ Nguyễn đặt đội Bắc Hải không định bao
nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc
người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi,
miễn cho tiền SƯU cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền tiểu
câu ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà
Tiên, tìm lượm hóa vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba,
bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản”.
Sách
ĐạiNam thực lục
tiền biên làm rõ thêm
dựng nước, đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An
Vĩnh sung vào, hàng năm đến tháng 3 đi thuyền ra biển, độ
3 ngày đêm thì đến, thu lượm hóa vật đến tháng 8 trở về
h o à n g s a , t r ư ờ n g s a l à m á u t h ị t v iệ t n a m
19
nộp. Lại có đội Bắc Hải mộ dân ở phường Tứ Chính ở Bình
Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền
ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hóa vật. Đội này
cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”.
Thời Tây Sơn, có tờ sai đề vào năm 1786 của quan
Thượng tướng công ghi việc: “Sai Hội Đức hầu đội Hoàng Sa
dẫn 4 chiếc thuyền câu vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các
cù lao trên biển thu lượm đồ vàng bạc, đồ đồng và đại bác,
tiểu bác (loại pháo cỡ nhỏ - tác giả chú), đồi mồi, hải ba, cùng
cá quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ”.
Sau khi tiêu diệt nhà Tây Sơn, lên nắm quyền (năm
1802) đến khi mất chủ quyền vào tay Pháp sau hòa ước
Partner (1884) các vua nhà Nguyễn nối tiếp nhà Tây Sơn vẫn
ra sức giữ vững và hơn nữa còn mở rộng chủ quyền của nước
ta với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Sách “Đại Nam
thựclục
động của các vua nhà Nguyễn với hai quần đảo đó như sau:
Năm 1815, vua Gia Long “cử Phạm Quang Ảnh dẫn đội Hoàng
Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để khảo sát, đo đạc đường biển”.
Năm 1816, vua Gia Long “lệnh cho thủy quân cùng đội
Hoàng Sa ra Hoàng Sa tiếp tục làm những việc năm 1815”.
Năm 1833, vua Minh Mạng chỉ thị cho Bộ Công chuẩn bị
thuyền để năm sau sẽ phái tới Hoàng Sa dựng miếu, lập bia,
trồng nhiều cây côi.
Năm 1834, vua Minh Mạng cử Đội trưởng giám thành
Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân 20 người ra Hoàng Sa vẽ
bản đồ.
Năm 1835, vua Minh Mạng sai cai đội thủy quân Phạm
Văn Nguyên đem lính và thợ giám thành cùng phu thuyền
hai tỉnh Quảng Nghĩa, Bình Định chuyên chở vật liệu đến
Hoàng Sa dựng miếu. Bên trái miếu dựng bia đá, phía trước
miếu xây bình phong.
20
NHIỀU TÁC GIẦ
Năm 1836, chuẩn y lời tâu của Bộ Công, vua Minh Mạng
sai Suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền ra
Hoàng Sa đo đạc, vẽ bản đồ. Sách “
Nam thực lục chính
biên” ghi lại việc này cụ thể như: “K...
 





